BÙI QUANG THANH

Mảnh trăng cong- sợi tơ vàng
Treo chung chiêng giữa vô vàn khen, chê
Ai hờ hững, ai đắm mê
Tự ru mình giữa bộn bề đa đoan...

HOÀNG HÔN ẢI BẮC

quangthanhbvpl | 05 July, 2009 00:47

BÙI QUANG THANH

HOÀNG HÔN ẢI BẮC

Giữa mười vạn tinh binh kiêu tướng vẫn rơi đầu
Ải Chi Lăng thêm một hòn đá xám
Bóng ma hờ - cánh dơi chiều chạng vạng
Biển tinh kỳ tơ tướp hóa rừng lau

Bao năm qua. Rồi nhiều ngàn năm sau
Đá giấu mặt sau mây sau cỏ
Hồn bại tướng vật vờ trong lau, gió
Cõi thâm u khát một giọt cam lồ

Hoàng hôn này bên bệ đá nàng Tô
Vẳng tiếng trẻ khóc cha từ bờ kia biên ải
Sương hóa lệ. Cánh dơi chiều chững lại...

Mã Yên Sơn vẫn dáng ngựa tung bờm.

                                               6/2009

rộn ràng pháo hoa

quangthanhbvpl | 30 March, 2009 19:57

Đêm giao lưu thơ và người lính

quangthanhbvpl | 30 March, 2009 19:44

 


Đêm giao lưu "Thơ và người lính

  




 
Đêm giao lưu "Thơ và người lính
 

Đêm giao lưu "Thơ và người lính" tại Đại học Vinh

  

   Hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Khoa Ngữ văn và trường Đại học Vinh anh hùng, 78 năm ngày thành lập Đoàn TNCS HCM,  Khoa Ngữ văn Trường Đại học Vinh tổ chức đêm giao lưu thơ nhạc với chủ đề Người lính và Thơ.

   Khách mời giao lưu, có: Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng - Anh hùng lực lượng vũ trang, Tư lệnh Quân khu 4 (tác giả của nhiều ca khúc); Đại tá, nhà thơ Vương Trọng - công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội; Đại tá, nhạc sĩ, NSƯT Hoàng Thành, Trưởng đoàn Nghệ thuật Quân khu 4 ; Nhà thơ, Nhà báo Bùi Quang Thanh, Trưởng Cơ quan đại diện báo Bảo vệ pháp luật tại Miền Trung và Tây Nguyên ; Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội.

   Đến dự đêm giao lưu có ông Nguyễn Thế Trung, UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An ; ông Cao Đăng Vĩnh, Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Nghệ An ; ông Lê Văn Ngọ, Giám đốc Sở GDĐT Nghệ An ; Luật gia Nguyễn Tiến Chương, Phó Tổng biên tập báo Kinh tế nông thôn; Nhà báo Bùi Sĩ Hoa, Tổng biên tập báo Nghệ An ; GS.TS Nguyễn Văn Đính, Hiệu trưởng Trường Đai học Hà Tĩnh ; nhà văn Phan Trung Hiếu, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh; các Nhà văn, Nhà thơ, Nghệ sĩ, Nhạc sĩ: Đức Ban, Đoàn Tử Huyến, Trần Định, Nguyễn Văn Đờn, Ngọc Thịnh, Lê Quốc Hán... 

   Về phía Trường Đại học Vinh có PGS-TS-NGƯT Nguyễn Ngọc Hợi, Hiệu trưởng; PGS.TS Đinh Xuân Khoa - Bí thư Đảng Uỷ, P.Hiệu trưởng; PGS.TS Phạm Minh Hùng, P.Hiệu trưởng; Lãnh đạo các Khoa và các thầy cô giáo và hơn 500 sinh viên Khoa Ngữ văn. 

   Trong đêm giao lưu, các vị đại biểu, các vị khách mời và những người tham dự đã được nghe Đại tá, nhà thơ Vương Trọng; Đại tá, nhạc sĩ, NSƯT Hoàng Thành; Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Bùi Quang Thanh trò chuyện về cuộc đời, về quá trình sáng tác thơ- nhạc và đề tài người lính; nghe các nhà thơ, nhà phê bình ngâm thơ và bình thơ; thưởng thức các nhạc phẩm phổ thơ của các nhà nhà thơ do các nghệ sĩ thuộc Đoàn nghệ thuật QK4 và sinh viên Trường ĐH Vinh thể hiện. Đồng thời, các vị đai biểu, các vị khách mời còn được nghe các bài bình đặc sắc về thi phẩm của các tác giả Vương Trọng, Nguyễn Duy và Bùi Quang Thanh do các bạn sinh viên Khoa Ngữ văn trình bày. 

    Đêm giao lưu đã thực sự trở thành cầu nối giữa thơ, nhạc, người lính, người làm thơ và độc giả sinh viên.

(Tin từ Nghe An oline)

dạo blog văn chương mọi nhà

quangthanhbvpl | 30 March, 2009 19:42

 

NGUYỄN HUY HOÀNG


CHUYỆN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ CÙNG LÀNG

Trở về, làng đã khác xưa

Xóm thôn hiu hắt, đồng xơ xác đồng

Quang mây tuột cả gánh gồng

Nhà nông đánh mất nghề nông bao đời


Lặng nghe chị kể khúc nhôi

Một lời lại nghẹn một lời thương thân

Chồng đau dặt dẹo quanh năm

Mảnh bom mổ sót vẫn nằm trong vai


Con ôsin tận xứ Đài

Tiền không, tin nhắn một lời cũng không

Quê người biền biệt núi sông

Đêm nằm khắc khoải chỉ mong con về


Về đây, tơi lá nón mê

Đội than, vác đá, phu xe cũng đành

Ruộng nương dự án đã giành

Trời thương, may túp lều tranh vẫn chừa


Làng quê bỏ hết cày bừa

Tha phương kiếm bát cơm thừa người ta

Vào thôn chỉ gặp cụ già

Chỉ khi Tết đến, người xa về làng


Giá như có độ trăm ngàn

Dựng lều, mở lấy quán hàng....Giá như...

Chị lau nước mắt, thẫn thờ

Má gầy phờ phạc, da khô, võ vàng


Xa xa, phía cuối đường quan

Phú ông xe nối hàng đoàn chơi gôn.

Qua Hội ngộ văn chương


GỬI NGUYỄN HUY HOÀNG


Trở về từ chốn xa xôi
Mái đầu đã bạc như vôi, đã đành
Ngập ngừng tìm bóng tre xanh
Làng xưa, người cũ, mỏng manh cánh đò...

Quê người đường rộng phố to
Đường lên cuộc sống ấm no ầm ào
Làng tôi! Đò vẫn cắm sào
Mẹ già đầu thấp váy cao ruộng bùn
Một đời...
gan ruột rưng rưng
Mồ hôi lưng mẹ ngập ngừng mắt con.

Sông đã cạn, núi đã mòn
Mẹ ơi! Sao mẹ vẫn còn khổ đau?
Đâu Nhà? Đâu Ruộng? Đâu Trâu?
Đâu con? Đâu cháu? Và đâu xóm giềng?
Tha phương trăm chốn ngàn miền
Bán thân bát gạo đồng tiền xót xa...

Xưa là làng, ruộng quê ta
Ai xoay ai chuyển hóa ra đất người
Đây "dự án" nọ "di, dời"
Úm bà la! Tiếng nấc,cười đêm đêm
Ngày nào đồng đội, anh em
Bây giờ: chủ - tớ, dưới - trên, rõ ràng
Dân không gian - quan tất tham
Từ tham nhũng đến Việt gian - quá gần
...

Xa quê, một năm mấy lần
Thăm quê, thăm mẹ héo dần ruột gan.

BQT.

TIẾNG ĐỒNG

quangthanhbvpl | 03 February, 2009 16:19


Bùi Quang Thanh

TIẾNG ĐỒNG

Lúa đỏ đuôi rồi, mẹ ơi
Phất phơ đôi bờ ngực lép
Rám nắng lặn vào da mặt
Tay gầy vin mãi buồng cong

Áo tơi xoay tròn gió đông
Nắn tấm lưng còng trẻ lại
Ngót trăm lượt lúa lẩy đòng
Thổi bay một thì con gái

Lúa đỏ đuôi rồi mẹ ơi
Mật ong đong vàng lũng núi
Chiều níu nhau đi vời vợi
Mây ngà sau nón nao nao

Nhấp nhô ruộng thấp bờ cao
Bước chân người đi hẫng mãi
Gốc rạ già nua nằm lại
Thảo thơm lan khắp đất trời

Lúa đỏ đuôi rồi. Mẹ ơi!

ĐỎNG ĐẢNH GIÊNG HAI

quangthanhbvpl | 03 February, 2009 16:19


Bùi Quang Thanh

ĐỎNG ĐẢNH GIÊNG HAI

Thong thả kéo cày trâu đủng đỉnh nhá cỏ non
Đất uể oải phơi lườn cong thiếu phụ
Lúa sau rét đỏng đảnh đòi sinh nở
Yếm tơ non e ấp cuối chân đòng

Bờ sông cong vàng rỡ cải khoe bông
Em giặt áo nụ cười lồng sóng biếc
Môi hạt dưa chưa phai hương vị tết
Đã ríu ran khúc nhạc mùa màng

Ai vội gì? Ai hỡi! Buổi xuân sang
Mây ngái ngủ cũng mơ màng trải bộ
Ta đỏng đảnh nhấm niềm vui vô cớ
Mà bâng khuâng hạt sương vỡ môi người.


viết từ những câu ca

quangthanhbvpl | 05 January, 2009 00:02

  BÙI QUANG THANH

VIẾT TỪ NHỮNG CÂU CA

Yêu quê, yêu nhất cánh đồng...
Đồng chua, sông mặn, cò không lối về
Ngàn năm vẫn mái tranh quê
Mẹ tôi tơi lá, nón mê chống trời
Tháng ba trong nước em ơi
Củ khoai tím cả vỏ ngoài ruột trong
Mẹ làm cánh vạc mom sông
Cha buồn như lão thần nông mất mùa
Đói lòng nên mỗi câu ca
Cũng thơm rau muống với cà dầm tương...

Đất nghèo hạt chữ câu cơm
Áo nâu lộn trái đỡ sờn nắng mưa
Lát bầu héo ủ thành dưa
Mít non làm nhút, khế chua làm quà
Bát chè xanh nóng xuýt xoa
Đêm trăng thanh tỏ nhà nhà ới nhau...

Chẳng là "phên, dậu" gì đâu
Mà xa cuối đất, mà sâu cùng trời
Chiến chinh khói lửa tơi bời
Một gang đất lệch mấy thời binh đao
Phế - hưng, cũng chốn quân vào
Thớt voi, vó ngựa, chiến bào chen nhau
Đèo Ngang đá xám còn nhàu
So chi hoa lúa đọt màu non tơ
Thuyền chật biển, súng ken bờ
Ngàn năm Nước dựng, mấy giờ Dân yên?

Chắp tay con vái tổ tiên
Ngực trần dám chịu hòn tên hai bề
Cũng vì yêu đất thương quê
Nghĩa nhân ban phát, gom về bão giông
Ăn đầu gió, ngó cuối sông
Giọng trầm, âm đục mà lòng thanh cao

Dẫu dũng tướng, dẫu thi hào
Hồn cha tình mẹ lặn vào máu tim.
BQT

 

ĐÊM THẠCH HÃN

quangthanhbvpl | 04 January, 2009 23:49

                   Bùi Quang Thanh
      
ĐÊM THẠCH HÃN

Pháo hoa đỏ trời. Đèn trôi kín sông
Thạch Hãn đêm nay sóng vỗ nghẽn lòng
Vạn đèn hoa - vạn bàn tay vẫy
Nhân thêm mất mát, bồi thêm thương mong

Đò ai gác chèo trôi trong mông lung?
Áo trắng chờ ai hỡi vạn anh hùng
Những tuổi đôi mươi mấy bờ thế hệ
Thạch Hãn một dòng chẳng chia riêng, chung

Thạch Hãn một dòng nước trăng long lanh
Cỏ non nhớ ai thiết tha cổ thành?
Khói hương lên trời mà thành mây trắng
Thịt xương vùi đất thắm vào lá xanh.

Ai biết chăng ai một thời trận mạc
Bao tuổi đôi mươi chợt thành bùn đất
Biết mấy măng tơ đi mãi không về
Để những lời ca như là tiếng nấc

Thạch Hãn một dòng, máu Nam máu Bắc
Sũng các chiến hào, đỏ ngầu bến Vượt
Hơn vạn trái tim cao ngất tượng đài
Tám mươi mốt ngày bão lửa Bảy Hai.

Đêm "tráng ca" - lời ca nghẽn giọng
Đất dưới chân tôi như nghìn độ nóng
Lửa và bom. Và nhịp trái tim dồn...
Thạch Hãn rực hoa, đèn

hay cuộn cháy đau thương?


                    Thành cổ Quảng Trị,3
0/4/2007

 

Tản mạn về SỰ HOÀN HẢO

quangthanhbvpl | 30 December, 2008 13:22

 

Nhân sự kiện bóng đá Việt Nam vô địch Đông Nam Á (AF SUZUKI)

             Tản mạn về "Sự hoàn hảo"

                                         Tùy bút Thơ

 Những nuối tiếc đau buồn đã nằm lại phía sau nhường chỗ cho rạng rỡ nụ cười, niềm hân hoan chiến thắng. Đừng ai nói đó là điều may mắn mà là sự hoàn hảo tuyệt vời của năng lực, niềm tin. Cám ơn thầy Tô, Hồng Sơn, Việt Thắng, Công Vinh; cám ơn Vũ Phong, Tấn Tài, Như Thành, Quang Hải... bóng đá Việt Nam bao lần ta  khắc khoải để bây giờ vỡ òa  tiếng reo vui.

 Đừng cho là may mắn bạn ơi! Chính Sự hoàn hảo đã làm nên chiến thắng. Dù khởi đầu có nhiều cay đắng khi 2 lần thủng lưới trận ra quân. Đã sinh trời, sinh đất thì phải sinh sự công bằng, và dĩ nhiên sự công bằng cũng bao gồm cả cho bóng đá. Những khát vọng từ trời Âu biển Á cháy như là ngọn lửa - cháy khôn nguôi.

Chẳng hiểu sao khi lăn vào lưới đối phương quả bóng da lạnh lùng đến thế? lạnh đến nỗi nửa trái đất niềm đau sâu tựa bể và đắng cay chua chát sánh cùng trời. Cảm giác này thường trực trong tôi từ lâu lắm nhưng đến giờ đã không còn tồn tại. Sự hoàn hảo của đội tuyền Việt Nam sau mỗi lần vụng dại trái đắng đong đầy hoá mật ngọt thành công. Thắng Malaysa đâu chỉ một Vũ Phong, đâu chỉ vì mặt sân gồ ghề và bóng nẩy tung không định hướng? Nếu không có Công Vinh như mũi khoan thép xuyên bức tường Singapo (như một điều không tưởng) rồi lật cánh vào cho Quang Hải hạ Sư tử biển Đông; Nếu không có sức bật lò xo của "người nhện" Dương Hồng Sơn, và Tấn Tài không chực sẵn lỗ gôn để chắn bóng nơi khung thành đã trống...

 Người Thái! Họ là ai? Ta là ai mà ta chưa dám thắng?  Họ cười mỉm bao lần khi ta nuối tiếc, buồn, ghen. Chảo lửa Mỹ Đình đã bùng cháy bao phen, không sáng nổi ước mong của ngừơì hâm mộ.

Người Thái! Thì vẫn là  những  Kiatisak, Thoong lao..., chẳng hơn chiều cao, không thua cân nặng, bao lần so giày lượt mưa lượt nắng, cớ can chi mà phải e dè? Họ mạnh khi ta yếu, công khi ta thủ, tỉnh khi ta mê; nếu "tay bo" chắc ai hơn ai trên từng vị trí.

 Sức mạnh thầy Tô truyền, đó là: ý chí, niềm tin, đoàn kết, hiệp đồng; là  bại không nản, thắng không kiêu, vững khi thủ, sắc khi công; là tuân thủ ý đồ chiến thuật...

 Trên sân khách, những chàng trai Đất Việt như Phù Đổng Thiên Vương vụt sáng rực thiên hà, đêm Giáng sinh dệt nên bản hùng ca, cờ đỏ sao vàng tung bay như ngày vui đại thắng. Người Thái không có Noen! Các đảo quốc cũng bớt phần cay đắng bởi đối thủ hạ mình đã lớn quá tầm tay. Chiến thắng này đâu phải chỉ  là may, đó là kết tinh của những phần hoàn hảo.

Và một đêm cuối năm đội hùng binh xung trận trong cờ bay trống rộn Mỹ Đình, cả dải đất chữ S (ét) này cũng vào cuộc với các anh, bởi Bóng đá đã thấm vào máu thịt. Gã khổng lồ lại một lần bị ‘bắt chết" khi cái đầu chàng trung phong Xứ Nghệ xé toạc lưới đúng giây cuối của cuộc chơi. Biển biển người oà vỡ tiếng reo vui, nước mắt, nụ cười, niềm hân hoan, kiêu hãnh. Tổ quốc ta như lại vừa thêm đôi cánh bay lên tầm cao mới của vinh quang.

Ngót 50 năm một ước mộng Vàng đã lại về tay những người hoàn hảo.

 Người hoàn hảo phải là người tỉnh táo bởi giành rồi làm sao giữ lâu hơn.

                                                                    

                                                                Trên xe Hà Tĩnh - Đà Nẵng, 29/12/2008

                                                                              Nhà thơ  BÙI QUANG THANH

Viết sau trận bán kết 2 giữa tuyển bóng đá VN và Singapore

quangthanhbvpl | 23 December, 2008 12:52

Bùi Quang Thanh

VIẾT SAU TRẬN THẮNG CỦA
TUYỂN BÓNG ĐÁ VN TRƯỚC  SINGAPORE

Tặng ông Calisto

Nụ cười ẩn dưới vành ria
Khát khao giấu sau đáy mắt
Vui buồn không hằn lên mặt
Khen chê chẳng lọt vào tai

"Phù thủy" - dĩ nhiên là tài
Nước lã gột hồ sao đặng
Bí quyết làm nên chiến thắng
Bắt đầu từ Niềm Tin Yêu

Làm thầy: thắng không hề kiêu
Dạy trò: bại không nản chí
Huy chương màu gì cũng quý
Quý nhất là Niềm Tin yêu
.

Gửi Lê công Vinh

Dẫu chưa có bàn thắng nào từ chân sút của em
Đừng buồn nhé, ơi chàng trai Xứ Ngfhệ
Đồng đội và em đã đi đến tận cùng
Nỗi ước mong và vinh quang có thể.

Người hâm mộ đã từng quen chàng trung phong nhỏ bé
Như tia chớp xuyên hàng phòng thủ đối phương
Nên hụt hẫng khi em làm "lộ tiêu" hút sinh lực "địch"
Cho đồng đội có thời cơ xé lưới mở đường

Thương lắm lời em
 phút chia tay chú bé ung thư trên giường bệnh
"Anh sẽ ghi bàn! Nhất định phải ghi"
Mai, nếu trở về hành trang em không có thêm bàn thắng
Đồng đội đã làm thay, điều ấy có hề gì.

 
                            Trên máy bay Hà Nội - Đà Nẵng,
                                      đêm 22/12/2008

Nẻo Về

quangthanhbvpl | 10 December, 2008 21:41

BÙI QUANG THANH   

      NẺO VỀ


Ơi Hoa Đô lau trắng
Ơi Bích Động ngàn năm
Ơi Kim Sơn, Non Nước...
Chớp mắt rồi xa xăm

Chuông chùa đâu vang ngân
Sông Đáy chiều ửng mặt
Nỗi nhớ nặng ngàn cân
Nẻo về dài tít tắp

Dẫu ngàn năm người ơi
nước chảy
đá mòn
thời gian
vầng trăng khuyết
lòng ta
người biết chăng?

Ninh Bình ơi
tình người như tơ giăng
níu hồn ta ở lại
dẫu mịt mờ xa ngái
vẫn cháy ngời yêu thương./

Tản mạn từ trang Blogs của Bùi Quang Thanh

quangthanhbvpl | 06 December, 2008 09:10

   TẢNMẠN TỪ BLOG BÙI QUANG THANH
      Blogs, phương tiện truyền tải thông tin qua mạng đã làm say mê nhiều người. Một số các nhà văn, nhà thơ, nhà báo  sử dụng blogs như một tờ báo riêng cho mình hay cho một số cộng đồng "cư dân mạng". 
      Từ những cảm hứng trực tiếp khi trao đổi, tâm sự, thăm hỏi bạn bè trên trang blogs của mình, Nhà thơ Bùi Quang Thanh đã chọn một số "bài" để  chia vui cùng bạn đọc.

  
RÓT ĐI!


                                             Làm ly! 
                                             Ừ thì vài ly


                            Đầu xuân

buổi sáng

có chi mà từ

Rót đi!

      Bạn cụng.
                           Ta "Ừ!"

Rượu suông?

Không!

nhắm với thơ

với tình

 Hoa nào chẳng đẹp chẳng xinh
Vui xuân gõ cữa "nhà"* mình - càng vui.

*Nhà, địa chỉ blogs của ai đó

 

NHẮN DÙM MỘT TIẾNG:

 "GIÁ EM VÔ"

          Với Trần Văn Tuấn
                          
                           Bữa ấy nàng Tiên trong áo tơi   

Nheo nheo đuôi mắt ngó anh cười
                           Tay cầm nhỏn mạ xen cuối tiết:

"Sao chẳng xắn quần xuống cấy chơi?"


                           Nàng Tiên như thể chùa Hương xuống

Môi chín hoa sim tím non Hồng

Nàng Tiên như giáng Đồng Lộc đến

Tóc dài bồ kết nắng vừa hong


                           Nàng Tiên của mẹ xinh hơn mộng

Theo miết anh đi khắp hải hồ

Ai đó xe tàu về Hà Tĩnh

Nhắn dùm một tiếng: "Giá em vô"



                               NHÂN THẾ

        Với Lê Hồng Nga

                           Hạt Tình rồi cũng gió bay

Hạt Lộc chia hết - trắng tay: hạt Buồn

Này hạt Dại! Này hạt Khôn

Như cánh chuồn chuồn chao đảo thế nhân

Cứ làm hạt Thóc ngày xuân

Mẹ gieo buổi sớm nảy mầm buổi trưa

Cứ làm cánh Mạ đong đưa

Đất ải cha bừa lúa trổ bông thơm

Cứ làm hạt Tấm hạt Cơm

Hoặc làm cọng Rạ nhành Rơm dâng Đời

Phố phường ngửi bụi mà chơi

Cuối ngày lại ước về nơi quê mùa


                          QUA VOI

ĐỪNG TẮT ĐỪNG NGANG

                                                     Với một người không biết quý danh                       
                         
                                              Về Voi* cố gắng làm ngơ

Qua cầu Rác* khéo lơ mơ...mất quần

Ta mời ghé biển Kỳ Xuân

Cớ can chi cứ Động Tuần* ghé vô

Anh nào, anh nảo, anh mô

Đã qua nơi ấy cũng khô túi liền

Đồi sim mà lộng gió tiên

Mái tranh quán cóc cũng lên "thiên đàng"


                           Qua Voi đừng tắt đừng ngang

Buộc quần cho chặt mà mang...ấy về.


* Voi, Rác, Động Tuần  là các địa danh ở phía nam Hà Tĩnh, có tiếng đất "trăng hoa" đời mới.


    BÁN... TRỜI

        Với Tùng Bách

 Đem thơ lên gạ Trời mua

Trời sợ mắc lừa nói khéo đuôỉ đi

Tẽn tò chẳng biết làm chi

Bán Trăng? Bán Cuội? Bán gì tết đây?

Ô hô! Thôi, bán cha này

Tớ liền nháy Cuội chỉ ngay Trời già

                                             Hai thằng cùng cười: ha... ha... 

      

                         
 NHẤT ÔNG(I)

                                 Với bạn chat về bài thơ
                                Hầu chuyện Uy Viễn Tướng công

                          Xưa nay trong đạo làm trai

                          Kể như Uy viễn ít ai sánh bằng

                          Khi ông cũng như khi thằng

                         Rượu, thơ và gái nhập nhằng như nhau

                         Nghìn năm trước, nghìn năm sau

                         Bảy ba (730 một tá cô đào - chỉ ông

                         Khi dẹp cõi, khi làm nông

                         Trên vì vua, dưới vì dân, vẹn toàn

                        ‘Thanh, cần, thận, trực " lo toan

                        Vẫn không qua miệng thế gian thiếu, thừa

                        Thừa thì bán. Thiếu thì mua

                        Cầm , kỳ , thi , tửu dày thưa mặc đời

                        Cô hầu bà chúa cũng chơi

                        Trong triều ngoại quận bao người ông kiêng?


                        "Ta ngất ngưởng, ta khùng điên"

                         Đào nương cũng đến cửa thiền - nhất ông!


                             NHẤT ÔNG(II)


                       Vỗ đùi tán thưởng: "Nhất Ông!"

                      Chẳng hay tiên cảnh Tướng Công nghĩ gì?

                      Ông nằm? Ông đứng? Ông đi?

                      Lên voi? Xuống chó? Chấm thi? Canh tuần?

                      "Chí nam nhi" - "Nợ tang bồng"

                      Cỏ cây dầu nát, má hồng còn nâng

                      Kim Sơn, Tiền Hải, Nghi Xuân

                      Mo che, bò cưỡi, chây văn, ca trù...

                      Ngàn thông Hồng Lĩnh mãi ru

                      Nhục - Vinh quẳng lại, đánh đu Đức - Tài

                     Trứ là Trứ!

                     Ai là ai?

                    Tìm trong kim cổ "so vai" xem nào?

                                    BQT

 

Kính Lão và lời bình

quangthanhbvpl | 04 December, 2008 20:13


KÍNH LÃO


Hai mắt to thao láo
Tay víu vào tai ba
Mấy tuổi mà lên lão?
Mà vênh vang vậy hà?

Ba cho ngồi lên mũi
Khi đọc sách, làm thơ
Trông lão oai đáo để
Đôi mắt tròn mộng mơ

Lão khoe: mắt lão sáng
Để chỉ đường giúp ba
Em soi vào mắt lão
Eo ơi! Xoay như là...

Thì ra lão mù tịt
Khi rời khỏi mắt ba.

 
  BÙI QUANG THANH

            LỜI BÌNH
(BÁO NHI ĐỒNG, SỐ 48/2008)

            Hai mắt to thao láo
            Tay víu vào tai ba...
   Bài thơ viết về cái kính - một cái kính lão bình thường, người lớn tuổi, thị lực kém vẫn thường dùng để đọc sách. Ấy thế mà qua cái nhìn của trẻ em, bỗng nhiên có nhiều điều phải ngẫm nghĩ.
     Đối với người lớn tuổi, kính lão có vai trò quan trọng như thế nào thì ai cũng biết rõ. Khi tuổi tác cao, mắt đã mỏi, nếu không có kính thì thật khó đọc sách hay xem ti vi. Giống như cặp kính cận đối với người cận thị, cặp kính lão giúp cho người lớn tuổi khắc phục được phần nào những hạn chế của tuổi tác.
            Ba cho ngồi lên mũi
            Khi đọc sách, làm thơ
            Trông lão oai đáo để
            Đôi mắt tròn mộng mơ
   Rắc rối xảy ra khi cặp kính lão (vốn đã được nhân hóa) tỏ ra vênh vang, tự đắc về vai trò và tầm quan trọng của mình:
            Lão khoe: mắt lão sáng
            Để chỉ đường giúp ba
     kể ra lão cũng có lý. Nhờ có lão  ba mới đọc được sách, mới nhìn rõ đường đi. Vậy nên lão mới tự mãn là có thể "chỉ đường" cho người khác. Đối với bé, thật khó để phản bác một lý lẽ "cứng cựa' như thế!
     Nhưng không phải là không có cách. Điều kỳ diệu là cách mà bé lựa chọn trong trường hợp này là cách đơn giản nhất mà cũng hiệu quả nhât. Nếu "lão" kính khoe lão có thể chỉ đường cho người khác thì bé sẽ thử xem 'lão' có thể chỉ đường cho bé được không.
            Em nhìn vào mắt lão
            Eo ơi! Xoay như là...
   Thế là đã rõ. Không những lão kính không chỉ được đường mà còn làm cho béhoa cả mắt, khó nhìn hơn. Và bé kết luận:
            Thì ra lão mù tịt
            Khi rời khỏi mắt ba.
   Một kết luận đơn giản nhưng khá sâu sắc. Suy cho cùng, cái kính chỉ là một thứ đồ vật, nó chỉ có ý nghĩa khi phục vụ cho cuộc sống của con người. Trong trường hợp này, kính lão chỉ có ý nghĩa đối với một số người nhất định, và điều quan trọng nhất: đối mắt (dù đã kém) mới là yếu tố quyết định chứ không phải là cái kính. Khi rời khỏi mắt ba, lão kính "mù tịt".
      Bài thơ thấp thoáng một câu chuyện ngụ ngôn. Nó khuyên con người phải luôn tỉnh táo, biết nhận thức đúng vai trò và giá trị của mình.
Thực hiện: Tiến sĩ  Nguyễn Trí- Tiến sĩ  Nguyễn Trọng Hoàn - Thạc sĩ  Giang Khắc Bình

Thương vô cùng Hà Nội nước trùng vây

quangthanhbvpl | 04 November, 2008 23:36

                         HN
THƯƠNG VÔ CÙNG
          HÀ NỘI NƯỚC TRÙNG VÂY

                                                                     BÙI QUANG THANH


Nửa tuần nay mây rớt xuống sông H
ồng
Nước duy
ềnh lên tràn Hồ Tây, Bảy M
ẫu
Hà Nội phố bỗng hóa thành ốc đảo
Đường thành sông, bèo rác gác tầng cao

Ai bảo Sơn thần và Thủy tinh choảng nhau?
Thần chẳng thấy, chỉ thấy dân chống chọi
Gạo ướt, nhà chìm, trẻ thơ khát đói
Những kẻ già run rẩy bám xuồng bơi...

Nước đâu ra? Nước ập xuống từ trời!
Nước đâu về? Nước dâng lên từ đất
Hà Nội ơi! Người đông phố chật
Thương dân nghèo nhà ổ chuột, trồi đâu?

Hà Nội bây giờ thèm một cọng rau
Một lối nhỏ đưa con em đến lớp
Những bình dị bỗng hóa thành mơ ước
Được thong dong đi trên những con đường

"Rồi sẽ qua..." nghe em nói mà thương
"Sẽ lại đẹp Hồ Gươm, sẽ bình - yên - Hà - Nội"
Vâng! Rồi sẽ... sao lòng anh đau nhói
Thương vô cùng Hà Nội nước trùng vây.

                       Đà nẵng, 04 tháng 11/2008

Xe tăng 377 và những người Anh hùng chưa được tôn vinh

quangthanhbvpl | 24 October, 2008 09:29

 

 BÙI QUANG THANH


          
 XE TĂNG 377 VÀ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG

                            CHƯA ĐƯỢC TÔN VINH


     Trở lại chiến trường xưa


      Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng - Chính uỷ Quân đoàn 3 - trước khi rời Tây Nguyên ra Bắc nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã đãi tôi một chuyến xe đi quanh chiến địa cũ Kon Tum, nơi tôi đã để lại một phần máu thịt, tuổi xuân và mang theo suốt cuộc đời những kỷ niệm vui buồn của  thời oanh liệt. Anh dặn tôi nhớ lên tận ĐăkTô thăm Tượng đài Chiến thắng, khi quay về anh sẽ trao đổi. Từ thành phố Plelku đi Kon Tum, sau khi vào thăm Bộ Chỉ huy Sư đoàn 10, viếng hơn 1 vạn đồng đội đã ngã xuống chiến trường Tây Nguyên nay được lưu danh tại Nhà tưởng niệm của Sư đoàn, chúng tôi ngược lên ĐăkTô - Tân Cảnh.

Đường lên chiến địa cũ, bên trái là dòng Pô Cô hiền lành uốn lượn. Bấy giờ đã cuối mùa mưa, nước sông xanh trong, lòng sông khá hẹp, những rẫy màu, rẫy cà phê, rừng cao su xanh mát làm dịu cả một mảng đồi núi đang rực rỡ nắng chiều. Lác đác những đám hoa dã quỳ nở sớm đong đưa trong gió. Con đường 14 trải dài, thênh thanh và vắng vẻ. Tôi được người lái xe của Trung tướng Tuấn Dũng giới thiệu những doanh trại khang trang của các đơn vị thuộc Sư 10 nằm dọc quốc lộ như ngầm báo rằng đã rất lâu họ vẫn bám trụ nơi đây và sẽ còn bám trụ lâu dài để góp phần xây dựng và bảo vệ cuộc sống thanh bình trên cao nguyên này.  Tôi rạo rực, bâng khuâng nghe, nhẩm từng cái tên thân thiết một thời: Trung đoàn 66, Trung đoàn 28, Trung đoàn 24....Tôi mỏi mắt tìm mãi trong trí nhớ  mới hình dung ra đâu là thôn Diên Bình, ấp Võ Định, Thị trấn Tân Cảnh, Đồi 41, 42... nơi mà ngày ấy, tháng 4/1972 chúng tôi đã cùng đại quân tiến công đập nát tuyến phòng thủ Bắc Kon Tum của Mỹ nguỵ, góp phần giải phóng một miền đất rộng lớn làm hậu thuẫn cho đà tiến công của cách mạng Tây Nguyên.

Dừng trước tượng đài Chiến thắng ĐăkkTô ngay phía tây thị trấn huyện, tôi lặng người trước tượng đài với cụm điêu khắc chiến sĩ Quân Giải phóng và những người dân buôn làng Tây Nguyên sát cánh bên nhau xông tới; mái nhà rông mềm mại cao vút bên rặng cây xanh tôn thêm vẻ hùng vĩ của bức phù điêu trên tượng đài. Tây Nguyên ơi! Tha thiết một thời hạt muối chia hai, quả bí bắp ngô của đồng bào cưu mang chiến sĩ. Hồi đó, chúng tôi luôn được đồng bào sát cánh chia ngọt sẻ bùi. Buôn làng các dân tộc thiểu số ở núi rừng biên giới là mái ấm của chúng tôi; một rẫy sắn, một giàn bí đao, một cái rẫy bỏ hoang hay một khoảng đất trông của căn nhà vừa dời đi nơi khác... đều cho chúng tôi lương thực, rau dưa. Sung sướng làm sao khi lần mò theo con đường giao liên xuyên rừng thẳm, dõi theo những cành lái rấp hoặc mũi dao vạch lên thân cây làm dấu chỉ đường, chúng tôi sẽ gặp những nương sắn cách mạng (được mệnh danh là "cây sắn tiến công") hoặc những quả bí đao tươi xanh nằm trên giàn trong nhà rẫy chờ bộ đội. Cả rau tàu bay, cây môn thục cũng đợi chúng tôi nơi đồng bào đã di dời sang rừng khác, nơi đất đá cháy khô vừa bị bom Mỹ xới đào. Chính trong chiến dịch ĐăkTô - Tân Cảnh mùa xuân 1972, đường ô tô không sử dụng được nhiều vì địa hình, vì máy bay mỹ, vì bí mật chiến trường, chúng tôi phải giấu xe vào hầm ếch xuyên sườn núi, còn người thì nào gùi, nào thồ bằng xe đạp, nào vác gạo, cõng đạn ra mặt trận. Ghé vai cùng bộ đội là già trẻ gái trai người Êđê, M'nông, Gia rai ...với mảnh khố ngắn củn, chiếc váy tuềnh toàng, cái bụng lép kẹp vì thiếu muối đói cơm mà cõng đạn chuyến sau nặng hơn chuyến trước. Có cô gái còn gùi hàng trăm kilôgam hàng một chuyến. Tượng đài Chiến thắng ĐăkTô thể hiện mối tình đoàn kết quân dân son sắt ấy, cũng chính là một sự ghi ơn đóng góp cho cách mạng của đồng bào.


 
     Anh Nguyễn Quốc Lập               Chị Phùng Thị Đức 

      Hai bên tượng đài Chiến thắng ĐakTô là hai cỗ xe tăng được sơn xanh rất đẹp, tất cả bóng loáng, sạch tinh bụi đất như luôn luôn được bàn tay người chăm chút vuốt ve. Cỗ tăng T54 mang số hiệu 377 ghếch nòng đại bác với góc 45o trong tư thế chồm về phía trước hết sức hùng dũng. Một cảm giác là lạ chen về, sống mũi tôi chợt cay cay. Tôi nhớ về một trong những người chỉ huy Tiểu đoàn xe tăng duy nhất, đầu tiên vào tham chiến ở Tây Nguyên mùa xuân 1972 ấy. Đó là người chú họ của tôi, Trung tá Bùi Quang Đấng vừa ngã bệnh mất cách đây không lâu.  Ngày 15 tháng 11 năm 1971, Tiểu đoàn tăng mang số hiệu 297của ông - trong đó có chiếc T54 dũng liệt bây giờ sừng sững bên tượng đài này - đang chốt giữ gần bờ bắc Bến Hải được lệnh hành quân vào Tây Nguyên với tinh thần và quyết tâm "Đi sâu, ở lâu, đánh thắng". Tiểu đoàn tăng 297 hành tiến cùng đại đội xe vận tải của chúng tôi vừa từ Trường Trung cấp kỹ thuật xe ở Sơn Tây vào (sau này trở thành Tiểu đoàn xe vận tải 827 của Binh đoàn Tây Nguyên). Những ngày cuối năm 1971 trời mưa đẫm rừng đẫm núi, đường Trường Sơn  có nơi công binh vừa mở, có nơi núi sạt đá lăn, nhiều nơi bị bom đạn đào xới (dấu ấn mới nguyên của chiến dịch Đường 9 - Nam Lào vừa khép lại) trở thành bùn lầy, trơn như đổ mỡ. Dưới tầm hoả lực của máy bay C130, B52, phản lực... được chỉ dẫn bởi máy bay trinh sát điện tử OV10, L19, của những con mắt thần từ "Cây nhiệt đới" bọn Mỹ thả lẫn với cỏ cây, cả những toán biệt kích giả dạng quân ta ẩn nấp trong rừng do thám... những chiếc tăng nặng nề của Tiểu đoàn 297 và những chiếc Zi3, chiếc Ga3 2 cầu, 3 cầu của chúng tôi vẫn hướng về nam xốc tới. Hai tháng rưỡi vượt bao gian khó hiểm nguy, đoàn xe vận tải và đoàn tăng tập kết tại ngã ba biên giới chuẩn bị tham gia chiến dịch. Những ngày này, đơn vị tôi phải giấu xe đi phục vụ hậu cần, tôi được điều ra kho K13 làm nhiệm vụ cho Ban xăng xe mặt trận, có lúc tôi cấp phát nhiên liệu cho đoàn tăng của chú Đấng tôi. Tiểu đoàn tăng này còn có một số bạn sinh viên cùng trường GTVT với tôi, cùng nhập ngũ và huấn luyện trong Tiểu đoàn 2B thuộc Sư 304B chuyển về. Chúng tôi vẫn sang tìm nhau thăm hỏi, động viên nhau vượt qua thử thách, nhường nhau từng bánh lương khô và vật dụng cá nhân.

Ngày 02 tháng 4 năm 1972, chiến dịch Tây Nguyên mở màn bằng loạt trận đánh của Sư đoàn 320 vào các tuyến phòng thủ phía tây sông Pô Cô. Với sự có mặt của bộ đội tăng thiết giáp và các đơn vị bộ binh khét tiếng trên các chiến trường hội tụ về như Sư đoàn 320 từ Trị Thiên vào; Sư đoàn 2 từ Quảng Nam lên..., chủ lực ta quyết tâm tiêu diệt tuyến phòng thủ Bắc Kon Tum mà Mỹ -ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn , ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vảo các chiến trường. Ngoài hoả lực đại bác và súng máy trên tháp pháo, bánh xích và tiếng gầm rú của động cơ, sức cơ động cũng như là thành công sự che chắn cho bộ binh hiệp đồng xung trận; chỉ riêng việc xe tăng hạng nặng của ta xuất hiện trên chiến trường Tây Nguyên cũng làm bọn giặc khiếp sợ, nao núng tinh thần. Sau những trận tập kích, mật tập, cường tập tiêu hao sinh lực địch và bóc gỡ các tiền đồn vòng ngoài, chủ lực ta được các mũi khoan thép là tăng - thiết giáp làm xung kích tiến công tiêu diệt căn cứ Tân Cảnh. Trong cuộc tấn công vào trung tâm phòng ngự của Tuyến phòng thủ này, chiếc xe tăng T54 mang số hiệu 377 do Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển chỉ huy đã lập chiến công hiển hách và đi vào huyền thoại của lịch sử bộ đội xe tăng.
        Trong đội hình Đại đội 7 của Tiểu đoàn 297 được giao nhiệm vụ phối hợp cùng Trung đoàn 66 tiêu diệt căn cứ 42 (ĐăkTô - Tân Cảnh), đêm 23/4/1972 xe tăng 377 xuất kích vượt ngầm Tân Cảnh, lướt qua chi khu ĐăkTô, Thị trấn Tân Cảnh và các mục tiêu vòng ngoài, áp sát phía tây bắc căn cứ địch. Đúng 4 giờ 30 ngày 24/4, xe tăng dẫn bộ binh diệt các hoả điểm ở cửa mở rồi yểm trợ nhau càn các hàng rào, diệt hoả điểm cho bộ binh xung phong. Ngay từ loạt đạn đầu, xe 377 và xe 352 đã bắn sập khu tháp nước và đài quan sát rồi xông vào dùng đại liên và xích sắt quần nát các công sự phòng ngự của chúng. Địch đang bàng hoàng, hoảng loạn thì xe 377 như một mũi tên thép xuyên qua các chiến hào, chà nát các vật cản và các ụ đề kháng, đánh thẳng vào Sở chỉ huy Trung đoàn 42 nguỵ. Thừa thế, bộ binh ào ạt xung phong.     
    Chỉ sau 3 giờ đồng hồ dũng mãnh tấn công, đại đội tăng 7 với 9 cỗ T54 đã cùng Trung đoàn 66 anh hùng tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Tân Cảnh, giết hàng ngàn tên địch trong đó có tên đại tá cố vấn Mỹ và đại tá Lê Đức Đạt, bắt sống tên đại tá Vi Văn Bình cùng nhiều binh lính.                                   
   
    

Kỳ sau: Trận đấu tăng một chọi mười

       

 BÙI QUANG THANH

                  
              
 
XE TĂNG 377 VÀ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG

                                  CHƯA ĐƯỢC TÔN VINH

                                                         (Tiếp theo kỳ trước)


     Trận đấu tăng một chọi mười

Chưa kịp nghỉ lấy sức và chuẩn bị cho xe, pháo sau trận đánh, Trung đội xe tăng 3 của Nguyễn Nhân Triển  nhận lệnh xuất kích tấn công căn cứ ĐăkTô2 cùng Trung đoàn bộ binh 1 của Sư đoàn 2. Vừa hành tiến vừa quan sát đường vừa liên lạc với bộ binh, băng trong tầm hoả lực pháo binh và máy bay địch, xe 377 dẫn 2 xe 354 và 369 tăng tốc lao về cứ điểm địch. Vì nhiều chướng ngại trên đường, 2 xe tăng bạn tụt lại khá xa, một mình tăng 377 xông lên đánh địch. Bọn địch thấy 377 đơn thương độc mã liền tung 10 xe tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây chiếc T54 của ta. Cuộc đấu tăng một chọi mười đã diễn ra vô cùng quyết liệt. Bình tĩnh, linh hoạt và chính xác đến tuyệt vời, Nguyễn Nhân Triển chỉ huy lái xe Cao Trần Vịnh quần thảo, tiến lui tránh tầm hoả lực địch cho pháo thủ Vũ Đức Lượng và Nguyễn Đức Toàn điểm hoả, diệt liên tiếp 7 xe tăng địch làm đội hình chúng rối loạn. Hai tăng  354 và 369 biết xe 377 lâm trận đã mở hết tốc lực xông lên ứng cứu, vừa đi vừa đánh địch mở đường, diệt một số xe tăng địch nấp sau ụ chiến đấu. Nhưng họ chưa kịp hội quân cùng đồng đội thì một chiếc M41 ở phía nam sân bay ĐăkTô2 đã bắn trúng chiếc xe tăng 377, lửa khói trùm kín chiếc chiến xa quả cảm ấy, cả 4 dũng sĩ trên xe 377 hy sinh. Cùng lúc, xe tăng và bộ binh Trung đoàn 1 tràn lên tiêu diệt hoàn toàn căn cứ ĐăkTô2.

Sau ĐăkTô - Tân Cảnh, rất nhiều căn cứ, sinh lực địch bị tiêu diệt. Vùng giải phóng Tây Nguyên mở rộng từ đông sang tây, ngã 3 biên giới được khai thông cho đại quân tiến vào làm chủ phần lớn cao nguyên, thọc sâu về Đông Nam bộ; xuống vùng duyên hải miền Trung... và một hậu phương bao la mở ra cho cách mạng miền Nam để tiến tới tổng tấn công đại thắng Mùa xuân 1975. Chiến công và sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Nhân Triển và đồng đội đã để lại dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lòng quân và dân Tây Nguyên cũng như đồng đội các anh ở Binh chủng tăng - thiết giáp. Tinh thần tiến công ấy theo mãi cùng những người lính Tây Nguyên trong Chiến dịch Buôn Mê Thuột và nâng những bánh xích của xe tăng Lữ đoàn 273, Lữ đoàn 203 tiến về giải phóng các tỉnh miền nam Trung bộ, giải phóng Sài Gòn. Chính vì vậy không phải không có căn cứ khi dựng tượng đài Chiến thắng ĐăkTô, người ta lại chọn xe tăng 377 làm thần tượng chiến thắng và tên của 4 người Dũng sĩ xe tăng đã hy sinh oanh liệt ngày 24 tháng 4 năm 1972 được khắc ghi bên cạnh tượng đài.

Lịch sử "Lữ đoàn xe tăng 273" xuất bản 01/1988 ghi: "Tập thể xe của đồng chí Nguyễn Nhân Triển đã nêu một kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: diệt liền một lúc 7 xe tăng địch trong một trận đánh. Nguyễn Nhân Triển và tập thể xe 377 đã nêu một tấm gương sáng, điển hình về tinh thần kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu." 

Phần kết
    36 năm kể từ mùa xuân lịch sử ấy, chiếc xe 377 cùng 4 dũng sĩ vĩnh viễn nằm lại với núi rừng Tây Nguyên. Đồng đội các anh nhiều người vẫn khôn nguôi nhớ về những kỷ niệm cũ; Tiểu đoàn xe tăng 297 đã phát triển thành Lữ đoàn 273, chiến đấu và trưởng thành trong đội hình Binh đoàn Tây Nguyên, đã 2 lần được tuyên dương "Đơn vị AHLLVT"; nhiều cá nhân trong đơn vị các anh cũng được tôn vinh danh hiệu cao quý này. Tuy nhiên, tập thể xe tăng 377 cho đến nay vẫn chưa được vinh quang đó.(?)

Câu chuyện về chiếc xe tăng T54 và 4 liệt sĩ - Dũng sĩ, chúng tôi được biết ngay sau chiến thắng ĐăkTô - Tân Cảnh. Sau này ông Bùi Quang Đấng (một thời là Quyền Lữ trưởng Lữ đoàn 273, về hưu năm 1985 do  thương tật và sức khoẻ) vẫn nhắc lại với chúng tôi mỗi lần anh em đồng đội từng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên có dịp hội ngộ, hàn huyên. Qua câu chuyện của ông, tôi biết thêm Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển là người Quế Võ (Hà Bắc), lái xe  Cao Trần Vịnh quê ở Đất Tổ Phong Châu và pháo thủ số 2 Nguyễn Đức Toàn quê Thanh Ba (Phú Thọ). Lúc hy sinh cả 2 pháo thủ Toàn và Lượng vừa tròn 20 tuổi. Ông cũng cho chúng tôi biết rằng, chiếc xe bị cháy rụi, thiêu thành tro tất cả thành viên trong xe vì vậy hài cốt của họ không thể phân biệt được. Ánh mắt ngậm ngùi thương xót của người chiến binh già mỗi khi nhắc về bạn bè đã nằm lại chiến trường làm chúng tôi ai cũng rưng lệ. Mà chẳng riêng gì tôi, người Tây Nguyên, cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 3, cả Bộ Tư lệnh Thiết giáp, cả các tướng lĩnh từng chiến đấu ở mặt trận Trung bộ hoặc có dịp đi qua Quốc lộ 14 ở Kon Tum... đều biết chiến công của tập thể xe 377 và người chỉ huy dũng cảm Nguyễn Nhân Triển. Vì lý do gì mà họ chưa được truy phong Anh hùng?

Sau chuyến thăm Tượng đài chiến thắng ĐăkTô về, Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng bảo tôi: anh vào nhận công tác ở Binh đoàn mấy năm, hiểu được nỗi day dứt của bộ đội và nhân dân Tây Nguyên về  việc tập thể xe tăng 377 chưa được phong danh hiệu Anh hùng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã giao cho các đơn vị có trách nhiệm làm hồ sơ đề nghị. Anh cũng mong báo chí phản ánh về gương chiến đấu của họ để tác động thêm. Thượng tá Đỗ Văn Ngọc - Chính uỷ Trung đoàn xe tăng 273 (sau này Lữ tăng 273 chuyển thành Trung đoàn trực thuộc QĐ3) cũng cho biết: Trung đoàn đã hoàn tất hồ sơ đề nghị phong danh hiệu AHLLVTND cho cá nhân đồng chí Nguyễn Nhân Triển và cho tập thể xe 377, đã gửi lên Quân cấp trên khá lâu rồi nhưng cho đến nay (ngày 10/6/2008) chúng tôi vẫn chưa có hồi âm. Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 7/6/2007 cũng cho biết, từ 2001 đến 2007 cả nước đã có 93 đơn vị và cá nhân được phong danh hiệu AHLLVTND, vậy mà những Dũng sĩ xe tăng của Tây Nguyên vẫn bị bỏ sót? Vậy hồ sơ đề nghị truy phong cho các anh đang ách tắc ở đâu? Nhiều, rất nhiều cựu chiến binh từng chiến đấu ở Tây Nguyên ngày ấy khi về lại chiến trường xưa đều trăn trở trước sự chậm trễ đến thiếu trách nhiệm này.

Trận chiến ấy đã qua đi gần 40 năm, dù muộn, dù đã rất muộn, Đảng - Nhà nước - Nhân dân ta hãy tôn vinh các Dũng sĩ xe tăng 377 bởi chính họ thực sự là những Anh hùng!

                                                             Kon Tum - Đà Nẵng, 6/2008

                                                                              BQT

Ảnh:  1, Tượng đài Chiến thắng ĐăkTô - Tân Cảnh.

          2, Xe tăng Anh hùng 377 . bên cạnh tượng đài ở ĐăkTô

                                                                                   BQT

Đi Tìm Người Dũng Sĩ " Thứ Tư "

quangthanhbvpl | 21 October, 2008 15:16

  
 ĐI TÌM NGƯỜI DŨNG SĨ "THỨ TƯ"


 




Lời tác giả:

Sau khi báo BVPL (số 49+50 ra ngày 17/6 và 20/6/2008) đăng bài ký sự "Xe tăng 377 và những anh hùng chưa được tôn vinh' của tôi, nhiều phản hồi của bạn đọc và các đồng đội tôi ở mặt trận B3 cũ  và các cựu binh xe tăng đã gửi thư, điện thoại về tỏ sự đồng tình và mong mỏi Đảng, Nhà nước, Quân đội có sự đáp ứng xứng đáng với chiến công và sự hy sinh lẫm liệt của tập thể xe tăng 377. Cũng từ những nguồn tin này, một phát hiện bất ngờ từ Trung đoàn xe tăng 273: một trong 4 người hy sinh trong xe có thể có sự nhầm lẫn(?). Và để làm sáng tỏ hơn danh tính của liệt sĩ, tác giả bài viết lại lao vào một cuộc điều tra đầy xúc động...



                                                Tác giả và mẹ Liệt sĩ Hoàng Văn Ái  

Dấu hỏi lớn!

.
          Khoảng mươi ngày sau khi bài ký sự được in trên báo BVPL, từ Thành phố Plelcu, Thượng tá Đỗ Văn Ngọc - Chính uỷ  Trung đoàn xe tăng 273 - điện thoại cho tôi biết, đơn vị đã rà soát lại tên tuổi từng người trong xe, có một điều đáng lưu ý là trên tấm bia ở tượng đài ĐakTô có khắc ghi tên  4 Dũng sĩ: Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, lái xe  Cao Trần Vịnh, pháo thủ Vũ Đức Lượng và Nguyễn Đức Toàn. Tuy nhiên trong danh sách các liệt sĩ của đơn vị hy sinh tại ĐakTô - Tân Cảnh ngày 24/4/1972 lại không có Nguyễn Đức toàn mà lại có liệt sĩ Hoàng Văn Ái. Anh Ngọc cũng cho biết có thông tin anh Ái là pháo thủ số 2 trong xe 377, đồng thời nhờ tôi nếu ra bắc thì tìm đến bố liệt sĩ Ái  tên là Tựu ở ngách 42, ngõ Vạn Ứng, khu chợ Khâm Thiên, Hà Nội. Một dấu hỏi lớn đặt ra: liệt sĩ Ái hay liệt sĩ Toàn là người đã chiến đấu và hy sinh cùng tập thể xe tăng 377? Hay là trên xe có 5 người? Tại sao chỉ có 4 hài cốt tìm thấy sau trận đánh và vì sao lại có tấm bia sừng sững mấy chục năm rồi bên tượng đài ghi tên tuổi, quê quán các liệt sĩ mà không ai phản ánh thông tin trên..Tôi nhớ hình như ai đó đã từng nói với tôi : nhà thơ Hữu Thỉnh đã lấy cảm hứng từ tập thể chiếc tăng này mà viết bài "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" sau này Doãn Nho phổ thành bài hát nổi tiếng, bèn điện hỏi anh Hữu Thỉnh. Nhà thơ - cựu binh của Binh chủng tăng - thiết giáp trả lời rằng anh có nghe kể về chiến công và sự hy sinh của tổ xe này nhưng không biết rõ xe 377 trước khi vào trận có mấy người.
Quyết làm sáng tỏ vấn đề, ngày 12 tháng 8 năm 2008 tôi bay ra Hà Nội.

Lần theo dòng địa chỉ.

 
                                                   Liệt sĩ Hoàng Văn Ái

      Được Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Định ở báo ảnh Việt Nam làm xe ôm, tôi lỉnh kỉnh máy ảnh, túi xách, áo mưa, mũ bảo hiểm len lỏi trong khu ngõ chợ Khâm Thiên chật hẹp, lầy lội một sáng mưa đi tìm nhà cụ Tựu. Tôi nghĩ, thông tin Chính uỷ Ngọc cung cấp chắc lấy từ trích ngang quân nhân Hoàng Văn Ái trước khi vào chiến trường, nghĩa là ít nhất phải trước năm 1972. Sau trận rải thảm B52 của Mỹ tàn sát Khâm Thiên, sau bao nhiêu biến động của thành phố ngót 36 năm trời, các cụ bố mẹ anh Ái tuổi cao, sức yếu, lại thương đau vì mất mát hy sinh như lá vàng trước gió... liệu có phải tôi đang mò kim đáy bể? Nhưng thật lạ, tôi vẫn có một quyết tâm sắt đá sẽ tìm ra tung tích gia đình để làm rõ nhân thân người liệt sĩ đã hy sinh bí ẩn.

 Qua khỏi những quầy thịt, rau, cá, gạo... của ngõ chợ Khâm Thiên chừng trăm mét, Trần Định đưa tôi rẽ vào ngõ Vạn Ứng, tìm đến ngách 42. Nhìn ngách phố nhỏ và cũ xưa như trái đất, tôi mừng thầm và hy vọng sẽ không có sự thay đổi gì lớn ở đây, nghĩa là có thể lần ra tung tích gia đình cụ Tựu. Dăm bảy lần quay ra, trở vào, hết ngách đến kiệt, đến ngõ cụt, hỏi khá nhiều người, không ai biết có cụ Tựu nào ở ngách này. Có người khẳng định là không có. Bỗng một bà cụ từ một ngõ hẻm đi ra bảo tôi: "Cụ Tựu không ở ngách này mà ở ngách 12. Ông cụ mất lâu rồi. Cụ Tựu bà ở  với con trai bên đó". Mừng quá, chúng tôi cám ơn bà cụ rồi quay xe trở ra tìm ngách 12.

Căn nhà nhỏ cuối cùng bên phải cái ngách 12 ấy nền rất thấp, ẩm, càng ẩm ướt hơn bởi cơn mưa. Ngoài cửa dựng một rào gỗ cao cỡ 0,4 mét để ngăn mấy đứa trẻ tuổi mẫu giáo đang tròn mắt nhìn khách lạ. Người phụ nữ trông lũ trẻ đã luống tuổi gật đầu chào tôi rồi quay vào gọi ông chồng ra tiếp khách khi nghe tôi hỏi tên bà cụ Tựu mẹ Liệt sĩ Ái. Bác Toản - người đàn ông ra đón chúng tôi luýnh quýnh gọi: "Có bạn chú Ái về, mẹ ơi!' rồi nắm tay kéo tôi vào nhà. Bên trái cửa, trên chiếc giường một là một bà cụ già như không thể già hơn được nữa, da dăn deo, mắt đờ đẫn, thất thần ngồi như tượng. Tôi bối rối ngồi thụp bên giường mẹ: "Dạ! Con là nhà báo, đã từng là bộ đội ở chiến trường Tây Nguyên với anh Ái về thăm mẹ." Bà cụ giơ cả hai bàn tay về phía tôi, phều phào: "Vậy à? Anh có gặp Ái không? Lâu lắm không thấy nó về?". Tôi mếu máo, nhìn sang bác Toản: "Vậy mẹ không biết anh Ái hy sinh?" Bác Toản mắt cũng đỏ hoe, nhoè nhoẹt nước mắt: "Biết chứ. Nhưng bà lẫn mất rồi. Không nhớ được gì đâu. Kém vài tuổi là tròn trăm rồi, chú!". Tôi nhìn lên bàn thờ, trên tường, ngay trước mặt: một bức chân dung một chiến sĩ dù đã rất cũ và nét phục chế vụng về vẫn lộ vẻ măng tơ, kiêu hãnh; một tấm Bằng Tổ quốc ghi công; một tấm Huân chương chiến công. Tấm bằng ghi rõ: "Liệt sĩ Hoàng Cao Ái hy sinh ngày 24 tháng 4 năm 1972". Vậy là ngày ấy - ngày xảy ra trận đấu tăng một chọi mười lịch sử ở ĐakTô - Tân Cảnh, anh Ái đã chiến đấu và hy sinh ở đây, tôi thầm nghĩ vậy. Nghệ sĩ Trần Định xin được thắp một nén nhang cho anh Ái và chụp lại tấm hình anh. Tôi thưa chuyện cùng mẹ  Tựu và vợ chồng bác Toản sự việc liên quan đến chiếc xe tăng, các liệt sĩ và lý do đưa chúng tôi tìm về đây. Mẹ Tựu dù tai không còn tỏ vẫn biết được những điều tôi trình bày. Mẹ xúc động cầm tay tôi, chỉ bác Toản rồi lắc lắc cái đầu có mái tóc ngắn bạc phơ. Từ hai khoé mắt đục mờ của mẹ, những giọt nước mắt lăn qua gò má nhăn nheo.

Bác Vũ Trọng Toản và anh Ái là anh em cùng mẹ khác bố, hai người sinh cách nhau đúng một con giáp, đều tuổi Thìn. Từ khi Hoàng Văn Ái nhập ngũ rồi vào chiến trường cho đến lúc nghe tin hy sinh, anh em không gặp nhau. Gia đình cũng không biết nhiều về việc hy sinh của anh Ái. Bác Toản cho biết thỉnh thoảng các bạn bộ đội cùng thời chú Ái có về thăm mẹ Tựu và thắp hương cho chú ấy. Họ là những người trong Ban liên lạc bộ đội xe tăng Hà Nội. Bác Toản cho tôi điện thoại và địa chỉ của anh Thái ở Thanh Xuân Nam để tìm hiểu thêm. Tôi điện thoại cho anh Thái, anh cho biết anh không ở cùng đơn vị Hoàng Văn Ái nhưng có anh Quang trong ban liên lạc có thể biết rõ hơn. Bác Toản nhớ ra, bảo tôi "Đúng rồi! Chú Quang là người cùng đơn vị với chú Ái và cũng tham gia trận đánh ấy". Tôi để lại chút quà nhỏ cho mẹ Tựu rồi tạm biệt gia đình bác Toản, hẹn sẽ có lúc quay về.
Cuộc hội ngộ bất ngờ
 

Các cựu binh xe tăng Hà Nội và các nhà báo trong cuộc hội ngộ bất ngờ

     Chiều ấy, tôi nhận được điện của anh Vũ Đức Thái - Trưởng ban liên lạc cựu binh xe tăng khu vực Hà Nội. Anh sốt sắng đề nghị tôi đến nhà anh Trần Văn Quang ở đường Lê Trọng Tấn để gặp một số đồng đội của các anh. Tôi và Trần Định đi ngay, mời thêm nhà báo Thu Huyền ở Phòng biên tập báo BVPL.

     Có đến gần chục người ngồi nhà đợi chúng tôi. Ai cũng tỏ ra thân thiết, tay bắt mặt mừng. Ngoài chị chủ nhà vợ anh Quang, trong họ còn một phụ nữ luống tuổi nhưng nét mặt dịu hiền, tươi tắn. Anh Quang, một cựu binh xe tăng rất điển trai, dáng thư sinh bởi nước da trắng và cặp kính cận, giới thiệu với chúng tôi thành phần ‘phía chủ": ngoài anh Thái, anh Quang, còn có anh Nguyễn Quốc Lập từng lái tăng ở C7 (đại đội có xe tăng 377) ở Tây Nguyên; anh Lê Xuân Sinh - lái tăng ở Lữ đoàn 203; anh Nguyễn Đăng Châu, anh Đỗ Viết Thắng và chị Phùng Thị Đức đều là sĩ quan xe tăng một thời nay đã nghỉ hưu. Trên bàn trà có mấy số báo BVPL in bài "Xe tăng 377...". Hình như đã hiểu ý định của tôi, anh Quang khẩn trương như những người lính ra trận, vào đề ngay: "Anh em chúng tôi rất mừng khi  bài báo của anh đề cập đến chiến công của kíp tăng 377. Sự hy sinh anh dũng của họ đã cổ vũ chúng tôi rất nhiều trong những lần xung trận và thú thực ai cũng bất ngờ khi biết họ chưa hề là Anh hùng lực lượng vũ trang dù họ đã mấy chục năm sừng sững là biểu tượng anh hùng cho trận đánh lịch sử ở Đaktô - Tân Cảnh, cho cả mặt trận Tây Nguyên, cho Binh chủng Tăng -Thiết giáp chúng tôi. Và càng ngạc nhiên hơn khi tôi nghe tin anh Hoàng Văn Ái, bạn tôi không có tên trong kíp xe 377 ấy." Như bắt được vàng, tôi hỏi nhanh: "Anh Quang và anh Hoàng Văn Ái biết nhau không ạ?" " Tôi và anh Ái thân với nhau, ở cùng một đại đội. Chúng tôi đã có một lời thề trước khi vào chiến dịch ĐakTô - Tân Cảnh." "Lời thề gì vậy anh?" Nét mặt anh Quang chợt chùng xuống. Một nỗi buồn thoáng qua trên gương mặt. Anh nhìn lướt các bạn chiến đấu một thời rồi lắc đầu: " Mà thôi! Chuyện cũ xa rồi. Dù sao tôi cũng đã thực hiện được lời hứa với Ái." Mọi người ngẩn ngơ. Không ai dám động vào một ký ức của một thời thiêng liêng, mà ký ức đó chắc chắn gắn với người đã khuất. Nguyễn Quốc Lập rít một hơi thuốc lá rồi nói: "Việc anh Ái chiến đấu và hy sinh trong xe 377, theo tôi không còn gì phải nghi ngờ. Anh Quang cùng đại đội, cùng quê hương, cùng chiến đâu là một căn cứ; đơn vị ghi vào danh sách liệt sĩ hy sinh ngày 24/4 là một căn cứ. Vấn đề là có mấy người tham chiến trong chiếc xe này? Bốn người nằm lại trong xe khi xe bị bắn cháy là những ai?" Tôi xin phép trình bày lại việc tấm bia ở tượng đài ghi tên 4 liệt sĩ mà không có liệt sĩ Hoàng Văn Ái và trong danh sách lưu lại của Trung đoàn xe tăng 273 lại không có Nguyễn Đức Toàn. Trần Văn Quang bóp trán rồi đưa ra giả thuyết: "Ái là pháo thủ số 2, bắn súng 12,7milimet đặt trên tháp tăng. Khi chiến đấu, xạ thủ này phải nhô người lên trên tháp tăng để bắn. Nếu xe bị bắn cháy, có thể Ái thoát ra ngoài xe và hy sinh đâu đó nên người ta không tìm được." Anh Đỗ Việt Thắng phân tích: "Tăng T-54 của Liên Xô thông thường phiên chế 5 người: một trưỏng xe, một lái xe, pháo thủ số 1, số 2 (nạp đạn) và xạ thủ 12,7 ly. Vậy có thể anh Ái kịp thoát ra khỏi xe khi xe bị bắn cháy." Một ý kiến khác: đối đầu với T-54 mang số hiệu 377 là 10 xe tăng M-41 của Mỹ. M-41 là loại xe có khả năng cơ động cao nhưng hoả lực yếu, chủ yếu đánh bộ binh, vì vậy pháo trên M-41 khó bắn thủng vỏ thép T-54 trong khi chiếc tăng này lại bị cháy trụi phía trong, các chiến sĩ đều cháy thành tro. Vậy súng gì đã bắn cháy tăng 377?". Anh Quang: "Chi khu ĐakTô - Tân Cảnh là cứ điểm đồn trú rất mạnh của địch. Ngoài xe tăng là hoả lực cơ động, chúng còn nhiều loại vũ khí đặt trong công sự như pháo chống tăng, DKZ...". Vũ Đức Thái hỏi tôi có tấm ảnh nào phóng to chiếc tăng của kíp xe Nguyễn Nhân Triển không? Tôi mở máy tính xách tay, phóng to chiếc xe tăng 377 mà tôi chụp ở ĐakTô. Mọi người xúm lại xem. Lê Xuân Sinh - người lái chiếc tăng mang số hiệu 886 của C3 (D1 Lữ đoàn 203) -cùng đại đội Bùi Quang Thận, người đã cắm cờ giải phóng trên nóc dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 lịch sử - phát hiện: "Đây là tăng T-59 của Trung Quốc chứ không phải là T-54 của Liên Xô!". Những người lính gật gù: ‘Đúng vậy! Bầu hút khói đầu nòng pháo dài thế này khẳng định chiếc xe này là T-59 do Trung Quốc chế tạo. Sao lại có thể gọi là T-54?". Tôi bối rối: "Bên tượng đài, ngay dưới bệ chiếc xe có ghi rõ là T-54 mà. Trong cuốn "Lữ đoàn xe tăng 273" do Cục chính trị Quân đoàn 3 xuất bản cũng nói rõ là đêm 23/4/1972, Đại đội 7 xuất kích cùng bộ binh Trung đoàn 66 đánh Căn cứ 42 ở  ĐakTô - Tân Cảnh gồm 9 chiếc T-54". Chị Phùng Thị Đức: "Hồi đó tôi ở cơ yếu Binh chủng nên tôi biết tăng T-59 được đưa vào Tây Nguyên cuối năm 1971". Anh Nguyễn Quang Lập: "Sau giải phóng, khi tôi đang ở Lữ 201 đóng ở Xuân Mai (Hà Tây), chúng tôi được giao bảo dưỡng chiếc tăng số 377 từ trong Nam đưa ra. Chiếc xe bị cháy đen thui. Chúng tôi được lệnh chỉ phục hồi phần vỏ, không trang bị vũ khí chiến đấu." Bác Trần Văn Quang: "Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đơn vị tôi được trang bị chủ yếu là T-54. số xe này bị tổn thất, bị hư hỏng khá nhiều trong chiến đấu nên trước khi vào Tây Nguyên, ngoài số T-54 còn lại, chúng tôi được trang bị hỗn hợp nhiều loại xe như T-59, cao xạ tự hành CY-57-2... Chẳng hiểu chiếc tăng anh chụp ở tượng đài có còn là chiếc 377 nữa hay không nên cần tìm hiểu kỹ. Vấn đề là tại sao không phải là anh Hoàng Văn Ái mà là anh Nguyễn Đức Toàn được ghi tên cùng kíp xe 377 ở tượng đài ĐakTô? Căn cứ nào để thay tên đổi họ như vậy. Là bạn anh Ái, cùng ở một đơn vị, tôi khẳng định Hoàng Văn Ái hy sinh cùng xe tăng 377 ngày 24/4/1972."


                     Anh Nguyễn Quốc Lập                 Chị Phùng Thị Đức 

 
Cũng tại cuộc "họp" bất thường này, anh Thái, anh Quang và mọi người đề nghị tôi thông tin lại cho Trung đoàn 273 và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ý kiến đóng góp của anh em trong Ban liên lạc bộ đội xe tăng Hà Nội để đơn vị có cơ sở tìm hiểu và điều chỉnh tên tuổi các liệt sĩ. Anh Quang  hứa sẽ gửi đóng góp này bằng văn bản cho trung đoàn cũ của mình. Anh chốt lại: "Ngày trước, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt có thể cảm thông những sai sót. Bây giờ có điều kiện rồi, tại sao chúng ta không tôn vinh danh dự và công lao của các dũng sĩ? Mà nhân chứng đang sống rành rành đây cả, việc điều tra, làm rõ cũng có khó chi. Mong các nhà báo cùng chúng tôi phối hợp tìm ra sự thật này". Vũ Đức Thái cầm tay tôi: ‘Có 4 vấn đề cần giải quyết xung quanh bài báo về chiếc tăng 377 của anh. Một là xe 377 không phải là tăng T-54 mà là T-59; hai là đồng chí Hoàng Văn Ái là người đã hy sinh cùng chiếc xe ở ĐakTô; ba là liệt sĩ Nguyễn Đức Toàn được ghi tên trên bia cạnh tượng đài là ai? Bốn là phải tích cực đề nghị để tập thể chiếc xe anh hùng được vinh danh như chính chiến công của họ. Mong rằng chúng ta còn gặp nhau để góp phần sáng tỏ vấn đề."

Tôi điện thoại cho Thượng tá Vũ Văn Ngọc Chính uỷ Trung đoàn tăng 273 thông báo việc đã tìm và gặp được mẹ của liệt sĩ Hoàng Văn Ái ở ngách 12 ngõ Vạn Ứng, Khâm Thiên (chứ không phải ngách 42 như địa chỉ của đơn vị cung cấp) và những ý kiến mà các cựu binh xe tăng đã tham gia rồi chuyển máy để anh Trần Văn Quang trao đổi sơ bộ cùng anh Ngọc.




                               Anh Trần Vân Quang                               Anh Vũ Đức Thái   

Ảnh kèm bài (Trần Định và BQT):

 1, Các cựu binh xe tăng Hà nội và các nhà báo trong cuộc hội ngộ bất ngờ

2, Anh Trần Văn Quang bạn chiến đấu của liệt sĩ Hoàng Văn Ái

3, Trưởng Ban LLBĐXTHN

4, Anh nguyễn Quang Lập: "Chúng tôi đã bảo dưỡng xe tăng 377"

5, Chị Phùng Thị Đức: "xe tăng T-59 đã vào Tây Nguyên cuối năm 1971"

6, "Ống hút khói đầu nòng pháo dài thế này là T-59."

          

Hồi âm từ những người lính

Chia tay với những người lính tăng  Hà Nội, tôi về lại Đà Nẵng với một tâm trạng lẫn lộn vui buồn. Vui là đã manh nha tìm được thông tin về liệt sĩ Hoàng Văn Ái và qua cuộc điều tra này tôi có thêm những người bạn mới là đồng đội cùng thời; buồn vì nếu anh Ái hy sinh trong xe 377 thì liệt sĩ Nguyễn Đức Toàn là ai, hy sinh ở đâu và những việc thực ra không phải chúng ta không làm được cho các liệt sĩ cùng thân nhân của họ, những góp sức làm sáng tỏ sự thật lịch sử một thời oanh liệt thì chính thế hệ chúng tôi cũng đang bỏ qua nhiều cơ hội, để thưa dần những nhân chứng.

                                        Thiếu tá xe tăng Nguyễn Trọng Thanh

Anh Trần Văn Quang* vẫn thường xuyên liên lạc với tôi trao đổi nhiều ý kiến đóng góp của các bạn anh, anh cho tôi một địa chỉ đáng tin cậy nữa là anh Phong ở Quân khu 4 là lính tăng Quân đoàn 3 cũ. Nghe đâu anh Phong đang tổ chức lấy tư liệu đề làm phim về xe tăng 377. Liên lạc với anh Phong qua điện thoại, tôi lần ra địa chỉ của người bạn thân của tôi là Nguyễn Trọng Thanh. Hồi ấy, tôi và Trọng Thanh cùng học khoa cơ khí ô tô ở Trường Giao thông, cùng nhập ngũ một lần. Tiểu đoàn 2B Sư 304B lúc ấy toàn là sinh viên các trường chuyên nghiệp được đưa về huấn luyện ở khu vực cầu K huyện Phú Bình, Thái Nguyên. Vài tháng sau Tiểu đoàn phân tán về các đơn vị. Tôi và 49 bạn về Cục Quản lý xe Tổng cục hậu cần, Trọng Thanh cùng 1 trung đội 50 người về Trung đoàn xe tăng. Tháng 3/1972, trong một lần tháp tùng một sĩ quan là trợ lý Ban Xăng - Xe của mặt trân B3 đi công tác vào  Cánh Trung (vùng Gia Lai bây giờ), tình cờ tôi gặp Nguyễn Trọng Thanh cùng một bạn học nữa đang mang ba lô đi ngược đường giao liên. Tôi vồ lấy thằng bạn đồng hương, hỏi han tíu tít. Tôi biết đơn vị xe tăng của nó cũng vừa vào và đang chuẩn bị xuất kích (chính là Tiểu đoàn tăng 297 duy nhất ở Tây Nguyên lúc ấy). Quấn quýt được mươi phút thì phải chia tay nhau. Tôi móc túi cóc ba lô lấy gói lương khô tặng bạn. Mấy ngày sau, tôi thoát chết trong trận bom B52 ở kho Đ27 rồi bị dính thương gần ĐakTô, vào Bệnh viện 211 của mặt trận, tôi gặp lại Trình  - người cùng đi với Trọng Thanh hôm gặp nhau giữa đường, biết xe tăng của Trọng Thanh bị cháy ở Kon Tum và nó bị thương. Cho đến bây giờ, đã 36 năm chúng tôi chưa gặp lại nhau, chưa biết tin nhau. Vớ được điện thoại của hắn, tôi gọi ngay và sau những thông tin sơ bộ về nhau, tôi đi ngay vào "vụ" tăng 377. Đọc kỹ bài viết của tôi trên báo BVPL, Thiếu tá xe tăng Nguyễn Trọng Thanh - nguyên là lái xe (tăng) của Đại đội 2 Nguyễn Văn Luyện trong chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên mùa xuân 1972 - fax cho tôi những thông tín sau:
      •-   C7 do Bùi Đình Đột (sau này là Đại tá, AHLLVT) chỉ huy có 11 xe loại T54 và T59. Tăng 377 là loại T59. Những người hy sinh trong xe gồm: Nguyễn Nhân Triển, Cao Trần Vịnh, Vũ Đức Lượng và Hoàng Văn Ái (anh Ái là pháo thủ số 2)
- Trong số 7 xe M41 của địch bị bắn cháy xung quanh xe tăng 377, đồng chí Lê Văn Duyên pháo thủ xe 354 cùng tham chiến có báo cáo bắn được 2 chiếc.
- Đồng chí Nguyễn Đức Toàn hy sinh (mất tích) trong trận đánh vào Thị xã Kon Tum chứ không phải hy sinh ở ĐakTô.  (lược trích- TG)

     

Nguyễn Trọng Thanh ghi chú thêm:
Trên đây là ý kiến của tôi (chính xác - có tham khảo ý kiến bạn bè).

Có một điều bất ngờ là khi tôi điện  báo cho anh Đỗ Văn Ngọc để xâu chuỗi sư kiện đặng tìm ra kết luận chính xác nhất thì Chính uỷ Trung đoàn xe tăng 273 cho biết: căn cứ vào các luồng thông tin đã có, đơn vị thống nhất kết luận đồng chí Hoàng Văn Ái là người đã chiến đấu và hy sinh cùng xe tăng 377. Riêng đồng chí Nguyễn Đức Toàn thì không rõ tăm tích vì đã cho người về điều tra tại xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ thì địa phương này không có ai tên họ như vậy mà đi lính xe tăng và hy sinh(?) Anh cũng cho biết đã tìm ra nguyên nhân sai sót trên là do một cán bộ chính sách của đơn vị do thiếu trách nhiệm mà để sai lệch tên tuổi, quê quán liệt sĩ. Tuy nhiên người này đã nghỉ hưu lâu rồi. Tôi đề nghị anh Ngọc gửi cho tôi nội dung kết luận của đơn vị về trường hợp của Hoàng Văn Ái và xác nhận của xã Phù ninh về đồng chí Toàn nhưng anh Ngọc bảo đã gửi lên Quân đoàn 3 để xin ý kiến, và theo quy định, Trung đoàn không được phép cung cấp thông tin. Vậy là sắp tới, nếu liệt sĩ Ái có tên trong danh sách các dũng sĩ xe 377 thì Nguyễn Đức Toàn sẽ bị xoá tên và có thể coi như không hề có thân phận trong cuộc chiến(?). Ai sẽ làm sáng tỏ vấn đề này để lại trả tên cho anh Toàn nếu như có anh bằng thịt, bằng xương trong thời trận mạc vinh quang đó?

Đồng đội vẫn nhớ về anh

 Trao đổi với tôi qua điện thoại, AHLLVTND - Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng nguyên Tư lệnh bộ đội tăng - thiết giáp, hiện nay là Tư lệnh QK4 cho biết: Nhà nước đã có chủ trương điều chỉnh quy định phong tặng danh hiệu AHLLVTND cho các đơn vị cấp dưới đại đội, tập thể xe tăng 377 chắc chắn sẽ được truy phong danh hiệu cao quý này. Ngày đó chắc không xa nữa. Ngày đó chắc đơn vị cũ của các anh, bạn bè đồng chí và thân nhân của các anh sẽ họp mặt;  ký ức cũ về mất mát, hy sinh, thất lạc, lãng quên sẽ vơi đi nhiều bởi niềm vui về sự mong mỏi được bù đắp. Nhưng ...lẽ nào lại không có một liệt sĩ mang tên Nguyễn Đức Toàn từng chiến đấu và hy sinh như tên anh đã hiện diện trên tượng đài Đaktô - Tân Cảnh, như thông tin mà bạn tôi - Thiếu tá Nguyễn Trọng Thanh đã cung cấp?

Tôi lại gọi điện thoại cho anh Quang, anh Phong QK4 và Trọng Thanh. Một địa chỉ mới toanh lại xuất hiện và tôi nhận được một thông tin vô cùng quý giá từ Đại tá Đỗ Quang Thành (số điện thoại 032195007...). Đại tá Thành nguyên Chánh thanh tra Bộ Tư lệnh tăng - thiết giáp, bây giờ là Trưởng ban liên lạc C7 Lữ tăng 273, đang nghỉ hưu ở Mỹ Hào, Hưng Yên. Sau đây là nội dung thông tin đại tá Đỗ Quang Thành cung cấp cho tác giả qua điện thoại: "Khi chúng tôi vào Tây Nguyên, hầu như xe nào cũng phiên chế 5 người; tôi nhớ rất rõ 3 người trong xe 377 là Nguyễn Nhân Triển, Cao Trần Vịnh và đồng chí Ái. Tôi không thân lắm với Ái nhưng biết rất rõ vì sau trận đánh của xe 377, anh Kiện - Phái viên của Bộ Tư lệnh tăng đi cùng D297 cử tôi đi tìm xem xe 377 hy sinh như thế nào? Anh dặn tôi nhớ tìm xem Hoàng Văn Ái bắn 12,7 ly có thoát ra ngoài được không? Tôi tìm được 377, chui vào trong xe thấy cháy rụi cả nhưng không phát hiện ra xác các liệt sĩ, không thấy ai chết bên ngoài xe. Tiếp tục đi tìm, tôi gặp xe tăng 354 của Trung đội trưởng Tình (C12 bổ sung sang) và lái xe Quân, pháo thủ Duyên bị hỏng. Tôi cùng các đồng chí này chữa xe. Đang chữa xe 354 thì  anh Dư lên thay tôi chữa xe để tôi về nhận lệnh đi đánh Kon Tum. Sau khi đánh Kon Tum về, nghe tin xe 354 chữa xong quay về ĐakTô đã tìm kiếm và phát hiện 4 thi thể của các đồng chí trong xe 377 bị cháy thành tro. Sau này Đại tá Thọ- Phó giám đốc Bảo tàng Quân đội (cũng là lính tăng D297) bảo tôi là cùng hy sinh có Luợng và Toàn nữa. Tuy nhiên tôi lại biết Nguyễn Đức Toàn. Hình như quê Toàn ở Phú Thọ, là lính công binh của thiết giáp, có học qua trường xe tăng. Khi đơn vị chuẩn bị đánh Kon Tum, Toàn ở bộ phận dự bị. Vào gần đến Kon Tum thì đồng chí Phượng xạ thủ 12,7 ly của xe 376 không đi chiến đấu được nên tôi (lúc này là quyền C trưởng) quyết định đưa Toàn vào thay Phượng. Cũng chiến dịch này, tôi 2 lần được làm Đại đội trưởng Đại đội 7; lần thứ nhất thay đồng chí Bùi Đình Đột bị thương ở ĐakTô, lần thứ 2 thay D hy sinh ở Kon Tum. Chúng tôi đánh thị xã Kon Tum đến 2 "đỏ', cả 4 tăng của bọn tôi đều bị bắn cháy. Đồng chí Toàn mất tích trong ‘đỏ" 2."

Anh Thành cũng cho tôi biết điều bí mật của Trần Vân Quang và Hoàng Văn Ái mà  anh Quang hé lộ buổi gặp lần đầu ở Hà Nội. Số là họ đã hứa với nhau nếu một trong 2 người sống được trở về sau chiến tranh thì phải báo cho gia đình người nằm lại biết sự thật để đỡ trông mong mòn mỏi. Và Trần Văn Quang đã thực hiện lời thề ấy khi trở lại hậu phương, gia đình anh Ái hết sức đau xót khi hay hung tin, ông bà Tựu khóc lóc vật vã một thời gian dài. Mỗi lần anh Quang đến thăm là một lần ông bà suy sụp tinh thần và sức khoẻ vì nhớ thương con. Tuy vậy vì mãi không có giấy báo tử, cả nhà vẫn nửa tin nửa ngờ làm Quang hết sức bối rối và ân hận.

Sau khi nhận thông tin của Đại tá Đỗ Quang Thành, tôi thấy anh Toàn và anh Quang cùng ở xe 376 nên điện hỏi Trần Vân Quang xem có nhớ Nguyễn Đức Toàn không. Anh Quang xác nhận những điều anh Thành đã cung cấp cho tôi và cho biết sau trận ĐakTô - Tân Cảnh, xe 376 bị hỏng phải dừng lại sửa chữa, anh được điều sang xe khác và nhận chức B trưởng nên không biết anh Toàn về xe cũ của mình. Chiếc tăng 376 bị bắn cháy ở thị xã Kon Tum là chính xác.

Như vậy, từ thông tin của Nguyễn Trọng Thanh và Đại tá Đỗ Quang Thành, rõ ràng có một liệt sĩ Nguyễn Đức Toàn đã từng chiến đấu và hy sinh (mất tích) ở Kon Tum trong đội hình của Tiểu đoàn xe tăng 297. Dù mất tích hay hy sinh, anh vẫn đang sống trong trí nhớ của đồng đội. Lẽ nào chúng ta không tìm ra thân thế (dù chỉ là một dòng tên ngắn ngủi) vào tấm bia lịch sử của cuộc , gốc tích của anh để trả tên anh về nơi anh đã ra đi và khắc tên anh vào kháng chiến hào hùng?

                                                                                           BQT

* Ghi chú: Do sơ suất, tên của anh Trần Vân Quang tác giả  ghi là Trần Văn Quang. Ở bài này xin đọc lại là Trần Vân Quang. Thành thật xin lỗi bạn đọc. BQT

Làng cùi dưới chân núi Chư A Thai (Bút ký của Bùi Quang Thanh)

quangthanhbvpl | 15 September, 2008 15:21

Làng cùi dưới chân núi Chư A Thai   
                              Bút ký của Bùi Quang Thanh





            Từ thành phố Pleiku theo quốc lộ 14 về phía Nam rồi rẽ theo quốc lộ 25 đi Phú Bổn. Đèo Chư Sê mùa cúc quỳ đang nhuộm vàng hai triền núi, điệp một màu vàng nắng thu ngây ngất. Đổ đèo là xã Iake thuộc huyện Izunpa của tỉnh Gia Lai, những lũng lúa chín vàng như màu cúc quỳ, như màu mật ong sầm sẫm ngọt ngào. 
            Trụ sở xã Iake nằm sát đườn quốc lộ, giữa vùng lũng núi ấy, giữa những xóm buôn có vẻ như đanh lên hương vì cuộc sống mới, lại còn không ít mái lán đơn sơ, bề bboonj nhà nông thời tiền sử. Nhìn qua cũng biết cộng đồng dân cư nơi đây đa dạng giàu nghèo, đa dạng phong thái, đa dạng thổ cư, ngụ cư. Rơ Chăm Chiến - cử nhân luật, kiểm sát viên ở Viện kiểm sát Gia Lai - người ở xã này bảo chúng tôi : Xã  tôi có tới 7 dân tộc anh em chung sống, trong hơn một vạn dân thì người Kinh gần một nửa, Ba Na và Jarai hơn bốn ngàn khẩu, các dân tộc thiểu số ở phía Bắc như Mường -Tày -Nùng  -Thái hai ngàn người. 
            Chiến là người dân Bana chính gốc, từ khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh làm lễ kết nghĩa với xã Iake thì tuần nào, ngày nào cũng có người cả Viện kiểm sát về ở cùng dân, ăn cùng dân, vui buồn sướng khổ với nhau để giúp địa phương giữ gìn an ninh chính trị, giúp dân hiểu biết thêm Pháp luật và giải quyết dần những khó khăn muôn thưở của người dân ở một địa bàn heo hút, lạc hậu về mọi mặt này. Rơ Chăm Chiến Trở thành con thoi đi về, là mối liên hệ mọi mặt giữa cơ quan Kiểm sát và địa phương và người của của các dân tộc. Khi anh Phan Văn Sơn, Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh "bàn giao " chúng tôi cho Chiến, anh chàng Bana điển trai này vui ra mặt. Anh khoe rằng thung lũng Ạunpa của anh là nơi có nhiều có cảnh đẹp , nào đèo xanh núi thẳm, nào hồ Ajun Hạ trời nước mênh mông, nào những dòng kênh được bê tông hóa như nhũng dòng sông nổi trên mặt ruộng ...,anh chàng còn tán tôi về nhà chắc có thơ hay. Đinh Thu Hường cô kỹ sư Nông nghiệp vừa ra trường tròn một tháng lần đầu tiên vào Nam, lần đầu lên Tây Nguyên nhấp nhổm trong xe, cứ xuýt xoa ngó ra ngoài cửa kính - Hường đang đi thăm thú để chọn miền đất hứa cho sự nghiệp ươm trồng của mình.  
            Sau khi tiếp chúng tôi một chầu trà, Chủ Tịch xã Nguyễn Văn Tường hỏi Rơ Chăm Chiến :"Bây giờ ý nhà báo muốn tìm hiểu về vấn đề gì?"Đã trao đổi với tôi trước, Chiến đề xuất được gặp Kso Hiên  - Bí thư chi đoàn thôn ..., người đã vượt qua một chặng đường đời đầy gian khó đẻ trở lại làm công dân tốt của buôn làng. Hồi trước Kso Hiên nghe kẻ xấu xúi giục bỏ nhà vượt biên để sang Cam Pu Chia, hy vọng  qua Mỹ sống cuộc đời sung sướng. Trèo đèo vượt dốc, chui lủi luồn rừng chén hết 30kg gạo cõng trên lưng thì Hiên đế được nhà tạm giữ của bộ đội biên phòng  Đaklăk, sau khi được giải thích cặn kẽ âm mưu của kẻ thù là xúi giục đồng bào kém hiểu biết ra đi để thực hiện mục đích chống phá nhà nước, chế độ của nhân dân, phần hiểu ra sự lẽ, phần nhớ vợ thương con, Kso Hiên đã trở về sống trong vòng tay yêu thương của cộng đồng thôn xã. Anh được  vay vốn sản xuất, được động viên khuyến khích cả vật chất lẫn tinh thần và bù đắp lại lỗi lầm đã qua, Kso Hiên chăm chỉ lao động, tâm sự giãi bày những hiểu biết của mình về "Nhà nước Đề Ga"lưu vong phản động cho bà con các dân tộc ở đây. Anh được kết nạp vào Đoàn và được bầu làm Bí thư  Chi đoàn trong đại hội vừa rồi.
            Chỉ nửa tiếng sau khi đặt vấn đề, một chàng trai đen gầy, mắt sáng, tóc quăn đã rụt rè đứng trước cửa phòng Chủ tịch xã. Đi cùng anh là Bí thư Đoàn xã với chiếc áo thanh niên thanh niên tình nguyện còn rất mới. Làm quen, chụp ảnh chung, chúng tôi về thăm nhà Kso Hiên, thăm cái cơ ngơi nhỏ bé như vừa mới khai sinh của anh. Lũ trẻ con ở đâu ra mà nhiều quá. Tôi ngạc nhiên khi sôi lên từ đất những đứa trẻ đủ cỡ tuổi, tóc tai vàng quắt lại, mặt mũi bẩn thỉu, áo quần lôi thôi, những đôi mắt đen láy như mở to như ngạc nhiên, tò mò, thích thú,. Tất cả đều không che dấu nổi sự  thiếu thốn, khổ sở về vật chất, nhưng những đôi mắt của chúng mới ngời ngời làm sao. Tôi hỏi Bí thư  Đoàn xã:"Sao các cháu nheo nhóc vậy ?". Khoát một vòng tay về phía núi Chư A Thai, nơi có những mái tôn, mái gianh thấp lè tè, dài ngoằng, người Bí thư không dấu nổi vẻ buồn :"Tôi chột nhớ lời anh Phan Văn Sơn nhắc tôi đến thăm khu vực người cùi ở, có cách gì đó để cộng đồng giúp đỡ thêm cho họ. Vậy , hóa ra khu vực Kso Hiên ở chính là quần cư của những người cùi. 
            Một gốc đa cỡ hai người ôm mọc bơ vơ bên lề đường, giữa cánh đồng đi về làng cùi. Vài ba chục đứa trẻ leo lúc nhúc trên cành, trong lá, nhiều đứa đu đeo ở các cành la đà. Đứa nào cũng có trên tay một vài nhánh đa trĩu quả chín trắng,  mòng mọng. Quả đa có lẽ là món quả ưa thích duy nhất của lũ trẻ làng cùi. Nhìn gốc đa to trơn láng, tôi biết đây là sân chơi của chúng. Cả làng cùi hầu như chỉ có một cây cổ thụ này. Con đường đen xám xịt phân bò, phân heo đã khô vụn hòa lẫn đất cát. Những túp lều kiểu sàn ván, phía dưới là nơi ở của trâu bò, gia súc. Nếu không có những đám người lố nhố nhồi trên sàn ván hoặc ló đầu ra nhìn chúng tôi thì không ai nghĩ đó là nhà ở mà cứ tưởng là những chuồng trâu bò hoặc heo.
            Kso Hiên  kéo một người nhỏ bé, đen như  người Ấn Độ, dáng vẻ tinh nhanh đến. Đó là trưởng thôn Blay măk. Biết đoàn nhà báo đến thăm làng cùi, anh gật đầu đi trước chúng tôi đến ba " ngôi nhà " gần sát nhau, đều là lều sàn, gỗ được cưa ra từ những khúc cong ngoèo, đen lúa, bóng nhẫy vì mồ hôi, ghép rời rạc làm sân ngồi  và đỡ những bước chân rụt rè, tập tễnh. Một số đàn ông, đàn bà tò mò nhìn chúng tôi. Mấy người phụ nữ đang giã bột trên một sàn gỗ chợt dừng tay khi chúng tôi đến. Ai cũng có nước da đen lúa, mặc váy thổ cẩm cũ, áo xuống tuềnh toàng, dáng bẽn lẽn, rụt rè. Đối diện căn nhà của mấy phụ nữ đang giã bột là căn nhà sàn nữa cũng lem nhem như da thịt những người dân ở đây. Trên một sàn bằng củi ấy, một ông già đang nhìn xuống chúng tôi. Ngó kĩ, hóa ra ông già đang ngóng chứ không phải đang nhìn, bở hai mắt lão chẳng còn gì để gọi là mắt nữa. Hai hố sâu đỏ lòm những máu, gần như không hấp háy được, cứ dõi theo tiếng nói của những người xung quanh, như kẻ mù lòa hóng chuyện. Kso Hiên bảo tôi:"Đây là già làng Đinh Suân, 80 tuổi rồi". Cụ Đinh Suân gật gật đầu như  xác nhận lời giới thiệu ấy. Tôi chợt nhìn xuống chân rồi hai tay của cụ. Hai bàn chân không còn một ngón nào,vết rụng dù đã rất lâu nhưng vẫn còn chỗ đen chỗ đỏ. Mu chân, bàn chân như có ai xát gio bếp vào.hai tay cụ cũng chỉ còn hai cục xương và da đen thùi lụi. Tôi giật mình kinh hãi. Lần đầu tiên trong đời tôi tiếp cận một người bệnh phong gần mà lộ dạng như vậy. Tuy nhiên trước con mắt bà con dân bản, các cán bộ kiểm sát, cán bộ đoàn thanh niên và đám trẻ ríu rít tò mò bốn phía, cơn sợ của tôi tan biến, nhường chỗ cho một ý thức trách nhiệm của một nhà báo, của một cộng đồng. Tôi bước nhanh lên những bậc cầu thang bằng cây gỗ khô mà không còn màu gỗ, ngoài những chỗ láng bóng bởi vết mòn của bàn tay người vịn, còn nhiều dấu máu của bệnh nhân đã khô đen. Vừa ngồi xuống cạnh già Đinh Suân  thì hai người đàn ông nữa tới và ngồi đối diện với tôi, nét mặt có vẻ hoan hỉ. Anh trưởng thôn giới thiệu với tôi một trong hai người ấy là Nay Xa, con cụ Đinh Suân. Cả Nay Xa và và người kia đều rụng một số ngón chân, ngón tay. Chân cẳng họ chợt chạt nhiều chỗ, máu rỉ ra từ đó đỏ hồng, một vài đầu ngón chân vẫn chảy máu như là cái ngón vừa mới rụng xong. Qua câu chuyện với họ, tôi biết Nay Xa đang là lao động chính của gia đình, ông đang phải nuôi già Đinh. Nhìn những ruộng lúa nước quanh chân núi, lẫn vào trong xóm trọ này, nhìn con đường đầy phân bò và cất bụi, nhìn những bàn chân nứt nẻ ứa máu vì bệnh tật tôi rùng mình hỏi Nay Xa:"Chân cẳng thế kia thì làm sao xuống ruộng được ?" "Ô phải làm thôi. Không làm thì chết đói ." Rồi ông chỉ sang già Suân :"Cán bộ à!Phải làm sao xin cho bố mình cái chính sách của cách mạng chứ. Đau ốm lâu quá rồi, kêu miết rồi mà không được?"Rồi ông vào nhà mang ra một tập giấy tờ đưa cho tôi. Đó là tờ đơn của Đinh Suân xin được hưởng chính sách người có công với cách mạng. Tờ đơn dài 7 trang viết tay, có chữ ký của một số cán bộ cũ từng giữ chức vụ trong đảng của huyện Chư  Sê. Lý lịch già Đinh được tóm tắt như sau:dân tộc Ba Na, sinh 1933. bị bệnh cùi từ năm 1951. Tham gia cách mạng từ năm 1955. Năm 1957 vào chiến khu 7 thuộ K 11 ở làng Klây Pông, xã Ạ, Chư Sê (huyện Khu 7 cũ). Ông làm giao liên, làm công tác tiếp vận chuyển gạo đạn thuốc men cho Khu căn cứ và đã được kết nạp Đảng tại một chiến dịch phục vụ cho mặt trận; ông được tăng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ. Sau ngày giải phóng Miền Nam, vì bệnh tật phong quá nặng, ông được chuyển về Blaymăk  xã Eake (Azunpa)để sống tập trung cùng những người đồng bệnh như mình. Ông không được chế độ gì, sống hết sức vất vả, khổ sở bằng sự cưu mang của vợ chồng Nay Xa. Những người cùi cho chúng tôi biết thôn này có gần một nửa người bị cùi nhưng  già Đinh là người già nhất, có hoàn cảnh khó khăn nhất. Trưởng thôn thì than phiền rằng trước đây thường có Bác sỹ tên là Hưng ở tỉnh về điều trị và cấp thuốc cho bà con bị bệnh, từ năm 1995 đến nay, bác sỹ bảo đã điều trị dứt điểm rồi nên không về nữa. Hầu hết các con bênh gặp khó khăn về đời sống vì khả năng hạn chế, một số người bị tái phát, bị lở loét bị rụng ngón mà không được chăm sóc chu đáo. Anh cũng đọc cho tôi hàng loạt cái tên rất khó nhớ đang bị bệnh hủi hành hạ ngày đêm như : Siu Răm, Siu Hy, Siu Chăm, Siu Nhớp, Kso Ret, Kso Cưng, Kso Rblok, Ro Nhai, Ro Thui, Nay blơnh, Nay Tuyt, Rlanlut. Bản thân Nay Xa bị cùi cách đây 25 năm, hiện tại từ đùi xuống vẫn còn lở loét, vẫn rụng ngón và đau đớn vô cùng.
            Không dám nhìn lâu vào những gương mặt xác xơ, đau khổ của nhiều người bệnh từ  đâu đã kéo đến, tôi quay người trông ra bốn phí làng cùi. Núi Chư A Thai xanh thắm sau lưng, cánh đồng lúa vàng ửng trước mặt. Sự sống vẫn trải ra từ núi rừng trời đất, từ những cặp mắt trẻ thơ. Bất giác, tôi liên tưởng  đến những làng phong ở Quỳnh Lập , ở Quy Hòa  những nơi đó nỗi đau của những người bất hạnh  đã vợi đi nhiều bởi sự chăm sóc của cộng đồng xã hội. Tôi nhìn những đứa bé hồn nhiên chạy theo tôi từ ngoài gốc đa vào đây và lo lắng nghĩ rằng : không biết trong dòng máu của chúng có tiềm ẩn căn bệnh gớm ghiếc này không ?Có cách gì để ngăn chặn sự  lây lan hoặc khả năng di truyền của nó ?
            Rơ Chăm Chiến chỉ về dòng kênh được bê tông hóa chạy song song quốc lộ 25, nói với Đinh Thu Hường và tôi : "Dòng sông nổi chạy ngay  đó nhưng muốn có nước cho 10 ha ruộng lúa của làng thì khá vất vả vì ruộng ở đây cao hơn mặt kênh, phải có bơm lớn thì mới giải quyết được nước cho lúa :. "Làm sao để có được bơm ? Có bơm thì phải có điện ?" "Viện kiểm sát cũng đã đặt vấn đề này với một số cơ quan để giúp dân làng. Với khả năng của Viện, hàng tuần có vài cán bộ về đây cùng ăn, cùng ở với dân, giúp đỡ dân trong việc thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao văn háo về dân dân tr, nâng cao nhận thức chính trị hiểu biết pháp luật và giúp đỡ ít nhiều về đời sống vật chất. Những đầu tư lớn thì Viện phải đề xuất với chính quyền thôi". Cô kỹ sư nông nghiêp băn khoăn :"Vấn đề là làm sao cho những người bệnh này, cho làng cùi này khá hơn về đời sống vật chất. Tự họ thì khó lắm ."Rơ Chăm Chiến nhìn Đinh Thu Hường lắc đầu nhè nhẹ : " Em không biết đó thôi, phần vì bệnh tật, phần vì bản tính lâu đời của người dân ở đây, họ không biết cất dành, gom góp, vì vậy có gì họ xao xáo luôn à. Hôm sau hết? Nhịn!Chính vì vậy phải dậy cho họ thay đổi tư duy, cho họ con cá để giúp họ tồn tại trước mắt nhưng phải cho họ cái cần và lưỡi câu để họ phát triển lâu dài ". 
              Tôi chợt nhớ lại lời anh Phan Văn Sơn, Viện trưởng Viện kiểm sát Gia Lai : phải làm được cái gì đó cho cộng đồng xã hội biết mà giúp đỡ họ. Tôi đặt vào bàn tay không còn ngón của già Đinh Suân một ít tiền làm quà, cảm giác được món quà của tôi là hạt muối bỏ biển, như con cá nhỏ của một chuỗi ngày dài thiếu thốn gian nan của già Đinh và dân làng. Rơ Chăm Chiến ơi! Anh nói rất đúng, với dân làng Blâymăk, có lẽ cái máy bơm và sự gần gũi của cộng đồng, trong đó các cấp chính quyền và đặc biệt là ngành y tế chính là cái cần và lưỡi câu để vực cuộc sống của làng lên.


                                                                                                                                      Gia Lai - Đà Nẵng ,6/2005  

làng cùi

CHÙM ẢNH VỀ ĐỀN ĂNGKOWAT CỦA BÙI QUANG THANH

quangthanhbvpl | 09 September, 2008 15:56

  1.                                            
                                 
               CHÙM  ẢNH VỀ ĐỀN ĂNGKOWAT CỦA BÙI QUANG THANH
                                                   (Tháng 9/2008)


          Vừa qua, trong chuyến du lịch trên phương tiện (Caravan) từ Đà Nẵng sang Lào (qua cửa khẩu Lao Bảo), Thái Lan, CamPuChia, Sài Gòn. Bùi Quang Thanh đã được chiêm ngưỡng nhiều kỷ thú của thiên nhiên và các công trình kiến trúc, các trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch của 4 nước khu vực Đông Nam Á. 
          Xin giới thiệu một số hình ảnh về ĂngKoWat của đất nước Chùa Tháp qua ống kính  của nhà thơ, nhà báo BQT

    ĐẾN...











































                 VÀ ĐI...!









Đồng Lộc: KÝ ỨC VÀ HIỆN TẠI - Ký sự

quangthanhbvpl | 09 September, 2008 08:14

 
    


Đồng Lộc: KÝ ỨC VÀ HIỆN TẠI
 Ký sự của Bùi Quang Thanh


      40 năm trước, vào những ngày tháng này, "toạ độ lửa" Đồng Lộc rền vang bom đạn, mịt mù khói lửa, máu và nước mắt chan chứa mảnh đất Trọ Voi. Cũng những tháng ngày này, bao người con ưu tú của đất nước hội tụ về đây chiến đấu và lao động, quyết tử để bảo vệ con đuờng huyết mạch ra tiền tuyến. Trong ngàn vạn người con ưu tú đó có một người tiêu biều nhất cho lòng dũng cảm, đức hy sinh, trí thông minh sáng tạo đã tự mình khoá mõm gần 500 quả bom và huấn luyện, hướng dẫn đồng đội rà phá ngót ngàn quả bom nổ chậm, bom từ trường của giặc Mỹ, góp phần giảm thiểu mồ hôi và máu cho đồng đội, mở đường thông tuyến tiếp sức cho tiền phương. Vương Đình Nhỏ đã vĩnh biệt chúng ta 18 năm rồi mà chiến công hiển hách của Anh vẫn trường tồn mãi mãi với sự tích Ngã ba Đồng Lộc. Và, mấy ai biết gánh nặng cuộc đời gia đình người Anh hùng ấy lại đè nặng lên vai người bạn đường chung thuỷ và những đứa con?


  Phần một

      HUYỀN THOẠI "VUA PHÁ BOM"

 Hinh Anh
       Anh hùng LLVT Vương Đình Nhỏ

            Người tung hứng thần chết

      Trên bước đường công tác của mình, tôi đã có hơn 10 năm làm việc ở Công ty xây dựng đường 4 của Hà Tĩnh. Công ty này vốn là một trong những đơn vị đã từng chốt giữ ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Linh Cảm, bến Tam Soa và các trọng điểm trên đường 15, đường 8A... trong thời đánh Mỹ nên có rất nhiều người nổi tiếng như La Thị Tám - cặp mắt thần đếm bom, Uông Xuân Lý - Dũng sĩ lái máy ủi gạt bom nổ chậm, Vương Đình Nhỏ với biệt danh ‘Vua phá bom"... và rất nhiều đồng đội của họ, của 10 cô gái TNXP trong tiểu đội Võ Thị Tần... Về Hà Tĩnh hồi đó, đi đâu cũng gặp anh hùng thật sự, tôi tự hào khi được sống giữa những con người chân thành, tình cảm. Những chiến công của họ cứ như huyền thoại xửa xưa. Họ hồn nhiên kể lại cho nhau những kỷ niệm "chết người" mà cười tràn như nghé. Tôi nghe kể nhiều về Vương Đình Nhỏ - một dũng sĩ nổi tiếng bởi chiến công, cũng nổi tiếng vì bình dị và khiêm nhường. Sau này tôi vỡ nhẽ ra, sự nổi tiếng ấy "nhờ' cả việc anh không được phong Anh hùng mặc dầu anh là người xứng đáng nhất được nhận danh hiệu ấy ở chiến trường Đồng Lộc và cả trên toàn tuyến giao thông Hà Tĩnh thời đánh Mỹ.

       Khác với các Anh hùng ở Đồng Lộc như La Thị Tám và Nguyễn Tiến Tuẫn, mọi việc đến với họ khá suôn sẻ; cả anh Vương Đình Nhỏ và anh Uông Xuân Lý đêu bị những định kiến hoặc mặc cảm thời đó ngăn cản. Anh Lý, sau 3 lần thắt khăn quàng đỏ, làm lễ truy điệu sống để trèo lên buồng lái đưa chiếc máy ĐT54 ra ủi gạt những qủa bom nổ chậm ra khỏi tim đường, một cô gái thầm yêu trộm nhớ anh đã không nén được sung sướng khi thấy anh sống trở về và họ ngồi bên nhau trong một chiều hoàng hôn vừa đổ bóng. Đáp lại câu hỏi: răng anh gan rứa của cô, Uông Xuân Lý cười: vì anh yêu em. Vậy mà một cán bộ phụ trách bằng cách nào đó lọt được vào tai câu "nịnh gái" rất nhân văn ấy đã cho rằng hành động dũng cảm của anh là vì... gái, nhất quyết cản trở việc anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Còn Vương Đình Nhỏ, vốn đã có vợ và 2 con tại quê Kỳ Thịnh, Kỳ Anh. Trong lúc Vương đi bộ đội, lăn lộn từ thời đánh Pháp tới thời đánh Mỹ, chị vợ ở nhà đã tụt tạt với người đàn ông khác. Vương Đình Nhỏ đau đớn và ê chề, quyết định ly dị vợ và họ chia tay nhau. Tuy nhiên, khi anh đã làm xong các thủ tục để đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng thì cấp trên ra điều kiện anh phải tái hợp với người vợ cũ. Nhất quyết không quay về với người đàn bà bạc tình ấy, Vương Đình Nhỏ phải chấp nhận gác lại vinh quang đó suốt... 38 trời, khi anh đã trở thành người thiên cổ từ 18 năm trước.

       Trở lại với thời kỳ oanh liệt trên mặt trận đảm bảo giao thông của Dũng sĩ phá bom Vương Đình Nhỏ, khi giặc Mỹ dùng thủ đoạn ‘ném bom hạn chế" trên miền Bắc, chúng dừng oanh tạc từ vĩ tuyến 20 trở ra nhưng tập trung toàn lực vào việc huỷ diệt khúc eo thắt miền Trung, từ cầu Bùng - Nghệ An trở vào. Rêu rao ‘hạn chế" là để đánh lừa dư luận quốc tế và nhân dân Mỹ đang quyết liệt phản chiến. Thực chất ở đây là hạn chế bề rộng của mặt bằng oanh tạc để tập trung vào yết hầu của đối phương - vừa hiệu quả về ngăn chặn vừa dễ dàng tiêu diệt mục tiêu trong toạ độ hẹp. Ngã ba Đồng Lộc, với  nhiều yếu tố về địa hình, địa lý, thời tiết... trở thành quyết chiến điểm của cả ta và địch. Trong vòng 7 tháng từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, giặc Mỹ đã ném xuống Đồng Lộc 43.000 quả bom các loại, chưa kể rốc két và đạn 20 ly. Bình quân mỗi tháng chúng đánh 28 ngày đêm với hàng trăm lần và trên 800 quả bom các loại, trong đó có nhiều bom nổ chậm, bom từ trường rình rập từng bánh xe lăn. Lực lượng đảm bảo giao thông Hà Tĩnh đã huy động toàn lực cùng bộ đội cao xạ, công binh, thanh niên xung phong lên Đồng Lộc sống mái với quân thù, giữ con đường huyết mạch. Có lúc 16.000 người được điều động lên đây để rà phá bom nổ chậm, san lấp hố bom. Vương Đình Nhỏ được giao nhiệm vụ Đội trưởng Đội phá bom "cảm tử'.

       Vốn là một quân nhân đã chiến đấu và phục vụ trong quân đội từ thời đánh Pháp và được đào tạo chuyên ngành công binh trong những năm hoà bình; những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ Vương Đình Nhỏ được trực tiếp làm nhiệm vụ rà phá bom mìn ở Tổng đội vượt sông 57, vì vậy anh là một kho kinh nghiệm quý báu của mặt trận. Nhiệm vụ của "Đội cảm tử' là phải loại bỏ bằng được những quả bom Mỹ trên toàn tuyến Đồng Lộc và vùng phụ cận cho các đơn vị khác thông đường. Dù ngày hay đêm, mưa hay nắng, hễ còn một quả bom sót lại thì anh và đồng đội chưa trở về. Lăn lộn cùng anh em để đào và gỡ hoặc rà phá từng quả bom bí hiểm, anh Nhỏ cũng tranh thủ nghiên cứu rất kỹ cấu tạo, tính năng từng loại bom để tìm phương án rà, phá an toàn nhất. Việc rà cho bom nổ không khó, cái quan trọng là khi nổ phải tránh tổn thất cho người và phương tiện, tránh thiệt hại cho đường sá, giảm thiểu công sức hàn gắn và thời gian thông xe. Một phương án phá bom độc đáo "rất Việt Nam" được Vương Đình Nhỏ đưa ra thực hiện: dùng bộc phá tự chế (từ thuốc bom Mỹ) đánh tách đầu nổ ra khỏi thân bom, đồng thời sức nổ của bộc phá cũng hất thân bom văng lên trời hoặc bay ra khỏi mặt đường và phát nổ. Như vậy bom sẽ không làm hư hỏng đường nhiều, đỡ công sức tu sửa. Ngày 18/5/1968, máy bay Mỹ ném một khối lượng lớn bom từ trường, bom nổ chậm xuống ngã ba Đồng Lộc, trong số đó có loại bom NT các anh chưa từng gặp. "Vua phá bom" Vương Đình Nhỏ đã nghiên cứu và đưa ra cách đánh "kích nổ dây chuyền". Bằng chính bộc phá từ thuốc bom lấy trong ruột những quả bom Mỹ, anh đã cài thế "bật gòn" và chỉ cần 150 gam thuốc nổ đã bắt 5 - 6 ông ‘kễnh" Mỹ bay ra cách xa tim đường mà nổ. Với sáng kiến "tung hứng" này, anh Nhỏ và đồng đội đã phá thành công nhiều bom Mỹ và đặc biệt đã kích nổ 19 quả bom rải trên trục đường 15 ở ngã ba Khiêm ích mà vẫn đảm bảo an toàn cho con đường. Theo ước tính, với sức công phá của ngần ấy quả bom, chúng ta phải san ủi 1.700m3 đất đá mới thông được đường....Chỉ tính thời gian địch ném bom hạn chế, Đội cảm tử đã rà phá gần 1000 quả bom loại mới NT và 500 quả bom các loại. Riêng đội trưởng - "Vua phá bom" đã tự tay "xử" gần 500 quả trong đó có 198 quả NT; lấy được 620 kg thuốc bom làm bộc phá trị bom Mỹ. Anh cũng không dưới 30 lần bị bom Mỹ vùi lấp, nhiều lần bị sức ép bom nổ gần làm huỷ hoại sức khoẻ và thân thể.

      Tinh thần cảm tử Đồng Lộc 1968 còn được "Vua phá bom" thể hiện trong cuộc chiến tranh phá hoại 1972 của Mỹ ra miền Bắc. Trên mặt trận mới ở phà Linh Cảm, trên dọc dòng La Giang, những người cảm tử phá bom với bữa ăn đạm bạc đơn sơ và lễ truy điệu sống nghẹn ngào xúc động rồi ra đi trong nước mắt và nỗi lo lắng của đồng đội, nhân dân để vật lộn với "thần chết" Mỹ dưới dòng nước xiết hoặc xoáy sâu. Cách phá ngư lôi bằng nam châm được áp dụng bằng cách kéo dây dăng ngang sông; bằng ca nô cảm tử chạy lướt để nhử mồi; bằng cả cách liều mạng: buộc dây vào thân bom rồi dùng ca nô kéo quả bom ra xa mục tiêu bảo vệ... Tất cả tâm trí, mồ hôi và máu của các anh dành cho dòng sông, con phà, tàu thuyền và những chuyến xe ra trận.

       Có thể nói, trong chiến công chung thắng Mỹ ở ngã ba Đồng Lộc nói riêng và trên mặt trận đảm bảo giao thông ở Hà Tĩnh nói chung, Đội cảm tử phá bom Vương Đình Nhỏ là một trong những đơn vị hoạt động hiệu quả nhất, là tấm gương dũng cảm vô song động viên khích lệ mọi người xả thân cho cách mạng, cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Vương Đình Nhỏ được đồng đội và nhân dân phong tặng "Dũng sĩ phá bom", "Vua phá bom", "Thủ trưởng Nhỏ". Tên tuổi anh gắn liền với sự tích Ngã ba Đồng Lộc một thời và mãi mãi. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc, anh Nhỏ đã được Đảng, Nhà nước và các tổ chức tặng 6 Huân chương các loại trong đó có 3 Huân chương Chiến công, Huy hiệu Bác Hồ và 20 Bằng khen các loại.

Chết vì dân giữa thời bình 
          Do sức khoẻ và thương tật của chiến tranh, năm 1977 Vương Đình Nhỏ nghỉ hưu và sinh sống tại ngay ngã ba Đồng Lộc, mảnh đất mà anh đã chiến đấu một thời. Trong mái tranh nghèo đơn sơ ngay sát ngã ba, anh cùng vợ là chị Nguyễn Thị Luận - một thôn nữ quê Đồng Lộc đã từng quý mến thương yêu anh từ những ngày anh đối mặt với bom đạn Mỹ và họ lấy nhau từ năm 1969 - vật lộn với cuộc sống vất vả để nuôi bầy con còn nhỏ dại. Với đồng lương hưu ít ỏi của một cán bộ ngành giao thông, anh và vợ, các con phải quần quật lao động trên hai sào ruộng để trồng trỉa nuôi nhau. Mặc dù vậy, "máu công binh" trong anh và ý thức trách nhiệm công dân trước hiểm hoạ bom đạn chưa nổ của giặc Mỹ rải đầy trên đồng ruộng xóm làng vẫn giục anh lao vào công việc không lương bổng mà vô cùng nguy hiểm ấy. ở đâu phát hiện ra bom Mỹ chưa nổ là người ta lại "mời" anh Nhỏ đến xử lý. Chẳng ai tính được Vương Đình Nhỏ đã làm bao cuộc "giỡn đùa với thần chết" để giúp nhân dân giành lại ruộng vườn nhà cửa và cuộc sống bình yên nhưng ai cũng biết anh đang càng ngày càng đuối sức bởi thương tật và căn bệnh hiểm nghèo: bệnh sỏi thận. Năm 1987, căn bệnh này đã quật anh ngã xuống không thể làm được gì. Bác sĩ bảo phải mổ mà anh chẳng có tiền, anh Nhỏ lần mò ra Bệnh viện Quân khu IV với  mong mỏi là sau hơn 20 năm trong quân ngũ ngày trước, may ra được chiếu cố. Khốn một nỗi, trước khi về hưu anh đã chuyển sang dân sự, vì vậy dù bệnh viên quân đội rất thông cảm hoàn cảnh của "Vua phá bom', anh vẫn phải tha cục sỏi thận tai quái ấy trở về Đồng Lộc.Trong một cơn đau dữ dội, Vương Đình Nhỏ được Bệnh viện Can Lộc mổ cấp cứu, rồi lại một lần mổ cấp cứu nữa nhưng vẫn không dứt được bệnh sỏi, anh quay sang uống thuốc nam cầm chừng để sống chung với bệnh tật.

       Cái tết năm 1990 đã cận kề. Tiền không gạo hết, đàn con nhỏ 6 đứa và người vợ héo hon vì sinh đẻ, vì thiếu thốn làm Vương Đình Nhỏ ray rứt không yên. Một hôm có người bạn cũ tìm đến anh bảo rằng ở Lao Bảo nhân dân đang gặp rất nhiều khó khăn khi giải phóng mặt bằng để sản xuất vì bom chưa nổ của Mỹ. Ông ngỏ ý mời anh vào giúp. Vương Đình Nhỏ tạm biệt vợ con cùng người em vợ đi ngay vào Hương Hoá (Quảng Trị). Thật đau đớn cho anh và gia đình, ngày 26/01/1990 khi anh cùng các cộng sự đang gỡ những hạt nổ ra khỏi một trái bom thì ba quả bom Mỹ  đã cùng phát nổ đưa người Dũng sĩ phá bom ở Đồng Lộc cùng người em vợ và 2 cán bộ địa phương về cõi vĩnh hằng. Chẳng ai trong họ còn nguyên vẹn, một phần lớn thi thể họ đã tan vào đất đồi Khe Sanh.

       15 năm sau ngày Vương Đình Nhỏ hy sinh, ngày 23/5/2005 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ra quyết định phong tặng danh hiệu AHLLVTND cho anh, một quyết định dù quá muộn màng nhưng chắc rằng cũng an ủi phần nào linh hồn anh dưới suối vàng. Ngày 17/01/2006, tỉnh Hà Tĩnh làm lễ truy phong Anh hùng cho anh trong sự nhớ thương và mãn nguyện của đồng đội và nhân dân, bởi không chỉ riêng Vương Đình Nhỏ mà cả ngành giao thông vận tải Hà Tĩnh - đơn vị chủ lực đảm bảo giao thông ở Ngã ba Đồng Lộc trên tuyến đường chiến lược huyết mạch vào Nam, sang Lào thời chống Mỹ cũng mới được nhận danh hiệu này sau... 38 năm "cân nhắc".

Phần hai:  
HẮT HIU NHƯNG SỐ PHẬN BUỒN


  Người đàn bà gánh chặng đường khó nhọc

      Trong căn nhà cũ kỹ, tềnh toàng, nhờ nhợ vì ánh điện tù mù đến nhức mắt, chị Trần Thị Luận kể cho chúng tôi nghe về gia cảnh của mẹ con chị. Chị Luận vốn dân gốc Đồng Lộc, nhữn Ảnhg năm bom đạn chị tham gia dân quân ở địa phương và quen "chú Nhỏ phá bom' trên chiến địa này. Mặc dầu anh Nhỏ đã lớn tuổi, gầy đét và đen nhẻm vì suốt ngày lăn lộn với nắng lửa và khói bom, mặc dầu biết anh đã có vợ có 2 con và vợ chồng đã ly dị nhau nhưng tình thương và lòng cảm phục đức tính thật thà, dũng cảm của anh đã giúp cô vượt qua mọi trở ngại. Họ cưới nhau năm 1969 và dựng lán ở ngay bên trọng điểm để anh Nhỏ tiện tham gia công tác. Năm 1972, địch đánh phá trở lại và những trận bom dữ dội lại trút xuống Đồng Lộc, cả mạn phà Linh Cảm  và nhiều nơi khác. Anh Nhỏ lên trọng điểm cả ngày lẫn đêm. Thời  kỳ này địch dùng nhiều loại vũ khí mới, đánh đêm vẫn chính xác nên anh Nhỏ phải dùng mẹo nhử địch để chia lửa cho xe, cho cầu. Mẹo của anh là dùng bình ắc quy ô tô bắt mấy ngọn đèn rồi đặt ở những vị trí "vô hại" nhất. Khi có máy bay Mỹ, anh bật đèn sáng lên nhử địch. Nhiều lần vừa đấu xong đèn chưa kịp chạy xa "mục tiêu" thì bom đã tới, đạn 20 ly đã xé đất xé đai. Anh Nhỏ bị sức ép, bị bom vùi, bị thương mà vẫn bám trụ. Mẹ con chị (lúc này anh chị đã có 2 cháu gái) ngồi trong căn hầm chữ A cách Ngã ba Đồng Lộc vài trăm mét, nghe bom réo mà lòng như lửa đốt.

      Chiến tranh đi qua, anh Nhỏ chuyển về Đoạn quản lý đường bộ cạnh nhà nhưng đồng lương quá thấp, con dại một đàn 6 đứa, chị nai lưng cày cuốc trồng trỉa nuôi con. Sau khi anh Nhỏ chết, nỗi đau mất mát và gánh nặng gia đình đổ ập lên lưng chị. Các con chị đều phải tập lao động từ rất sớm để giúp gia đình. Cũng vì vậy mà 6 đứa con chỉ duy nhất út Thương được học hết phổ thông và đi học Trung cấp du lịch, còn 5 đứa lớn không đứa nào qua hết lớp 7/12.

      Sức khoẻ chị Luận từ lâu đã bị suy sụp. Chị bị thoái hoá cột sống, lại bị căn bệnh gút hành hạ, chân cứ nổi lên từng cục ở các khớp xương, đau buốt như kim châm. Thật lạ, cái bệnh của "nhà giàu" tự đâu lại mò đến đeo bám lấy người nông dân bần cùng, thiếu thốn ấy. Không có bất cứ chế độ khám bệnh nào, kể cả sổ khám bệnh của người nghèo; đường đi đến các trung tâm y tế lại cách trở nên chị không được điều trị tử tế. Nghe bảo thân nhân các "Anh hùng" cũng được hưởng chế độ người có công với cách mạng, đã nhiều lần chị nhờ ông Nguyễn Thạch Chắt là người chuyên làm các chế độ hưu trí của xã liên hệ xin làm sổ khám bệnh thì được trả lời là "Không làm được!" Chị phải chờ các con lặn lội vô Quảng Bình cắt thuốc nam của thầy lang về tự điều trị. Hỏi chị thế từ khi anh Nhỏ được truy tặng danh hiệu AHLLVTND, gia đình chị có được giúp đỡ gì không? Chị cho biết khi đón danh hiệu Anh hùng cho anh Nhỏ, gia đình có được nhận 5 triệu đồng, nghe nói của cấp trên (Bộ và Sở cho). Từ ấy lại nay ít người qua lại, cả những lúc có việc lớn ở bên Khu Di tích Ngã ba chị cũng chẳng bao giờ biết đến. Bàn thờ anh Nhỏ, ngoài người thân, chẳng thấy ai đến thắp hương, kể cả những ngày lễ Tết. Tôi chợt liên tưởng đến bài thơ "Lời thỉnh cầu ở ngã ba Đồng Lộc" của nhà thơ Vương Trọng khi thay lời Mười cô TNXP hy sinh ở ngã ba này:
 
Mười chị em hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa xin dành cho đất
 Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
 Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
 Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi...


         Để có một Đồng Lộc anh hùng gan vàng dạ sắt mà hôm nay khắp nơi hướng trông về, hàng ngàn, hàng vạn người con thân yêu của Tổ quốc đã dâng hiến tuổi thanh xuân để giữ vững huyết mạch ra tiền tuyến. Đây là khu mộ Mười liệt nữ đã ngã xuống cùng giờ, cùng tháng, cùng năm. Kia là đồi liệt sĩ của hơn 600 cán bộ công nhân viên ngành GTVT Hà Tĩnh dù nằm sát ven đường mà vẫn lạnh vắng khói nhang. Còn đâu là nơi tưởng niệm các chiến sĩ phòng không? Đâu của các chiến sĩ công binh, lái xe, dân công hoả tuyến? Đâu nữa là những chiến sĩ trên đường hành quân ra trận đã không qua nổi toạ độ lửa này? Và đâu là tuợng đài của lòng dân Đồng Lộc và những vùng phụ cận đã ngày đêm sát cánh chung lưng cùng lực lượng đảm bảo giao thông... Tôi cũng chợt nhớ rằng, không hiểu từ bao giờ, khu mộ 10 TNXP dù khá chật hẹp và phải thực hiện nhiều ý tưởng xây dựng tập trung nhưng có quá nhiều cây đa cây đề của các vị quan chức trồng lưu niệm chen chúc nhau, mỗi cây cõng trên thân mình một tấm thẻ ghi tên tuổi chức danh các vị. Tấm thẻ nào cũng lớn hơn nhiều lần kích thước những cây con ấy. Giá như những cây đó, tự tay họ trồng trên các khu đất trống ở Đồng Lộc như mong muốn của các liệt nữ đã nhờ nhà thơ nói hộ thì thực tế hơn nhiều. "Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp". Vâng! Với những người đã hiến thân cho đất nước, chúng ta không được phép quên ai, nếu đã trót quên thì phải mau nhớ lại...

Như hiểu suy nghĩ của tôi và để an ủi, sẻ chia, chị Luận đưa chúng tôi sang một ngôi nhà xây khá xinh xắn cách căn nhà tồi tàn chị đang ở không xa. Căn nhà này có bàn thờ anh Nhỏ, treo nhiều Huân, Huy chương và Bằng chứng nhận AHLLVT. Chị bảo cách đây chưa lâu Bộ Tư lệnh công binh đã về tài trợ cho gia đình hơn ba chục triệu. Bộ Tư lệnh công binh không phải là đơn vị anh Nhỏ công tác nhưng chiến công của anh gắn liền với sự nghiệp và vinh quang của người chiến sĩ công binh, vì vậy món quà bất ngờ này, món quà lớn nhất của gia đình Anh hùng Vương Đình Nhỏ từ xưa tới nay được cộng thêm 10 triệu đồng của một cơ quan báo công an ở Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ đã giúp chị có căn nhà này làm nơi hương khói cho anh, cũng là chỗ ở cho cậu con trai thứ 5 Vương Đình Nhàn và cô út tên Thương. Ba cô gái đầu của anh Nhỏ và chị Luận, nhờ trời khá xinh gái nên dù học hành không qua nổi lớp 6, không có việc làm vẫn lấy được những người chồng tử tế. Riêng hoàn cảnh 2 cậu con trai của anh Nhỏ thì thật se lòng.


 Nhân mà chưa gặp "ái"

 Hinh Anh
         Tac gia voi gia dinh AHLLVT Vuong Dinh Nho

        Vương Đình Nhân, người con trai lớn của Anh hùng Vương Đình Nhỏ sinh năm 1974. Vì nhà nghèo mà chỉ học qua mù chữ là Nhân đã phải về lao động cùng bố mẹ. Bố mất lúc Nhân vừa 16 tuổi, cậu phải đi khai thác đá thuê trên núi để kiếm sống. Nhân đã có vợ và một đứa con. Một lần Nhân bị đá đè nát toàn bộ chân phải tại công trường. Tai nạn xảy ra với cậu lúc 8 giờ sáng, xương ống chân phải bị dập nát nhiều chỗ, máu chảy triền miên đến chập tối mới cầm được. Mẹ con chạy khắp nơi mà không chữa nỗi cái chân dập nát, cô vợ của Nhân đành rứt áo ra đi để lại đứa con 18 tháng cho Nhân và bà nội nuôi. Đứa trẻ giờ đây đã học lớp 8 rồi. Thương bà và cha, ngày ngày nó phải lên đồi bứt cây rành rành về bán cho người ta làm chổi để mua thuốc men cho bố và góp sức giúp bà. Gần 17 năm nay Nhân mang chiếc chân què khập khà khập khễnh đi lao động kiếm sống. Đến nay cái bánh chè nơi đầu gối bị tụt xuống, nước từ  ống tuỷ vàng vàng đục đục chảy ra mà không có tiền để chữa trị. Thấy Nhân quá vất vả và bế tắc, một vài người bạn cùng tuổi, cùng quê đã đưa Nhân vào Đà Lạt xin phụ việc ở một lò mổ gia súc để nhận phần lương mỗi tháng 1 triệu đồng. Một triệu đồng chi phí cho ăn ở sinh hoạt nơi xứ  "hoa đào" đắt đỏ  ấy, Nhân chẳng tích góp được bao lăm. Dù sao cũng có công việc và có thu nhập. Nhưng nỗi mừng chưa kịp lan hết người thân thì cái chân què giở chứng. Do tiếp xúc với môi trường nhiều xú khí của công việc tể lô, vết thương cũ nhiễm trùng, sưng nhức và rò tuỷ từ những chổ xương bị vỡ không liền được. Đã mấy lần Nhân điện về cho mẹ, các chị về hoàn cảnh của mình, Nhân chỉ ước được ai đó mở lòng nhân ái giúp cho anh có tiền đi phẫu thuật lại cái chân đang dần tự huỷ hoại cơ thể và sự sống của mình.


           Vương Nhàn và cuộc đời tầm nhạ

       Vương Đình Nhàn, đứa con thứ 5 và là con trai thứ 2 của Anh hùng Vương Đình Nhỏ sinh năm 1982. Cao to, đẹp trai nhưng cũng chỉ học đến lớp 6 như các chị và anh rồi về nhà đi rú (rừng). Nghề đi rú của Nhàn hơi lạ: tầm nhạ. Đã  lâu lắm, có lẽ từ thuở hồng hoang, một số rất ít người trong cộng đồng đã tìm ra thứ bẫy "dính' từ nhựa của một loài cây để bẫy chim trời làm kế mưu sinh. Loài cây này khá bí hiểm, ở đâu đó trong sâu thẳm đại ngàn, không có tên riêng nên người ta gọi luôn là "nhạ" (tiếng Hà Tĩnh là nhựa). Nhàn theo người lớn đi nhạ đã rất lâu và đây là thu nhập chính của cậu. Hãy nghe chàng trai "kẻ rú"- con trai người Anh hùng - kể về những cuộc đi nhạ của mình: Từ Đồng Lộc, Nhàn và bạn nghề phải cơm đùm gạo bị, trèo đèo lội suối tắt qua đất Lào để tìm đến nơi cây nhạ sống. Việc tìm được cây nhạ không dễ dàng vì nó mọc lẻ loi, lẫn trong rừng cây rậm rì, hoang vắng. May mắn gặp được cây nhạ, người ta bóc lấy vỏ, đập dập thật kỹ rồi tìm một nhánh suối nào đó để ngâm hoặc chôn xuống nước. Phải ngâm hoặc chôn đến 6 tháng thì vỏ nhạ mới cho thứ nhựa dẻo quẹo có thể dính bết bất cứ thứ gì nó bám vào, vì vậy việc "nuôi" đám vỏ nhạ trong rừng, dưới suối là rất phiêu lưu. Nào mưa lũ cuốn trôi, nào người khác chiếm đoạt, nào lạc chỗ tìm không ra... Mỗi kỳ đi tìm nhạ, Nhàn phải đi mất gần chục ngày, mỗi tháng đi 2 lần mang về được vài chục ký là nhiều lắm rồi. Tuy làm nhạ vất vả như vậy, rủi may lại bấp bênh nhưng trúng được nhạ mang về tận nhà, những người nghèo như Nhàn lại phải nhập giá rẻ cho các ông chủ nhạ. Bởi không có tiền làm lưng vốn cho chi phí đi rừng, hầu hết họ bán ‘nhạ non' cho các đầu nậu trước mùa nhạ. dĩ nhiên giá nhập phải thấp hơn rất nhiều lần giá thị trường. Nhàn cho biết, giá như thời điểm hiện nay, dăm yến nhạ chỉ nhập được khoảng 2 triệu đồng. Chi phí đi về, ăn ở trong rừng thì cả tháng, bán máu cho vắt, ngửa mặt cho ruồi vàng, ăn kham ở khổ cũng chỉ thu nhập dăm trăm ngàn đồng. Đó là chưa kể tiền xăng và khấu hao xe máy. "Bây giờ đi qua Lào phía Quảng Bình, bọn em phải vay mượn sắm xe để chủ động lên gần biên giới. Xe sắp tàn rồi mà vẫn nợ anh ơi!" Hỏi ước mơ của Nhàn? Cậu buồn bã: "Ước gì có cái xe công nông mà chạy quanh làng kiếm sống để giúp mẹ, giúp anh Nhân." Nhàn bảo cậu phải bỏ nghề sơn lâm này thôi, cực khổ đã đành, hiểm hoạ cũng luôn rình rập. Mới năm ngoái đây thôi, làng này có đến 3 người đi nhạ không trở về. Lũ quét rừng Lào đã nuốt mất họ. Tôi xa xót thầm nghĩ, sao Nhàn không ước lấy một cái ô tô nhỏ của Trung Quốc luôn. Bây giờ ai ước xe Công nông nữa. Mà giá có cũng không ai cho lưu hành. Một chiếc xe tải nhỏ của Tàu để giúp cho cuộc sống của cậu và gia đình có lẽ cũng không khó, nếu những "bà Tiên, ông Bụt" của thời nay thấu hiểu được hoàn cảnh và mơ ước của cậu mà mở tấm lòng vàng chia sẻ cùng những số phận bi thương.                 
Phần kết


       Như tôi đã nói ở phần trên, trong 6 người con của Anh hùng Vương Đình Nhỏ, có duy nhất út Thương được học hết phổ thông bởi sự cố gắng của cả nhà. Tốt nghiệp Trung cấp hướng dẫn viên du lịch ở một trường ngoài Hà Nội, với tính nết hiền lành, dế mến, lại biết hoàn cảnh của Thương, một vài người bạn của anh Nhỏ ở BTL Công binh gợi ý xin cho em vào làm ở Hà Nội. Thương đã cám ơn nhưng cô từ chối vì cô phải về gần mẹ. Ước mong của cô đi học du lịch cũng khá đơn giản và rõ ràng: được về ngay Ngã ba Đồng Lộc công tác tại khu Di tích. Nhờ sự giới thiệu của anh Hà Thạch - Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh, nguyên Bí Thư Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, Thương được về thử việc ở Ban quản lý Khu di tích Đồng Lộc. Anh Hà Thạch bảo tôi, nếu cố gắng làm tốt nhiệm vụ, Thương sẽ được biên chế trong thời gian sớm nhất. Nếu được vậy, chắc hương hồn Anh hùng Nhỏ nơi suối vàng cũng bớt nguôi ngoai...


  

                      Hinh Anh
                                    Đại diện trường THBCVT - CNTT II trao quà cho gia đình
                                              AHLLVT Vương Đình Nhỏ
(Ảnh BQT)
                            
                                                      Đồng Lộc, 13 tháng 7 năm 2008

                                                                 BQT

*
Bài in trên báo Bảo Vệ Pháp Luật, số đặc biệt kỷ niệm ngày thành lập ngânh KSNDVN , ngày TBLS (7/2008) và ngày Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Đồng Lộc. Sau hơn 1 tháng kể từ khi bài báo này đến với bạn đọc cả nước, gia đình Anh hùng Vương Đình Nhỏ đã nhận được nhiều món quà tình nghĩa từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân. có lòng nhân ái như Tập đoàn VinCom (30 triệu đồng), Trường TH Bưu chính viễn thông Miền Trung (14 triệu đ), Cty Viễn thông Hà Tĩnh (5 triệu đ)... và tổng số tiền đã xấp xỉ 60 triệu đồng. Chắc chắn con số này chưa dừng lại ở đây. Tác giả kính mong sự sẻ chia của những tấm lòng luôn biết đến nghĩa cử "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc mà hỗ trợ gia đình người Anh hùng một thời ở Ngã Ba Đồng Lộc.

Lời quả phụ

quangthanhbvpl | 08 September, 2008 00:12

   
Bùi Quang Thanh

LỜI QUẢ PHỤ

Nỗi buồn đến tự xa xăm
Và tôi thành lá rau răm cuối vườn

Nỗi buồn mặc áo hoàng hôn
Ngẩn ngơ tôi gói nỗi buồn mang theo

Núi xa buồn dựng thành đèo
Sông dài buồn lắng trong veo giọt lòng
Biển sâu buồn trải vô cùng
Trên bao la sóng, trong từng tăm sao

Người tôi thấp - nỗi buồn cao
Vì sao tạo hóa buộc vào với tôi?

Khẽ khàng mấy sợi tóc rơi
Vương trên đuôi mắt, xám trời mộng mơ
Buồn trên gối chiếc đêm mưa
Buồn sau hương án mịt mờ khói bay

Đâu trời cao? Đâu đất dày?
Nỗi buồn đeo đẳng tháng ngày với tôi.

Với người tiễn bạn về quê

quangthanhbvpl | 07 September, 2008 23:29

Bùi Quang Thanh

VỚI NGƯỜI TIỄN BẠN VỀ QUÊ
                   Tặng cô Hà Thanh

Ngày mai người lại về chốn ấy
Để gió La Giang xõa tóc mềm
Con sóng cuối đông chừng đỡ giá
Khi đến soi vào đôi mắt đen

Tình xưa vẫn đẹp nguyên  trong mộng
Như cánh đò ngang sóng vật vờ
Mẹ quê xanh hết dâu triền bãi
Con là tằm điếc chẳng buông tơ

Làm khách vãng lai chiều rủ áo
Một miếng trầu cay nghẽn lối về
Biết bến đò quê đang ngóng đợi
Mà mình chẳng dứt nổi nhiêu khê

Đâu sóng tràng giang buồn gờn gợn
Trùng trùng Thiên Nhẫn, biếc Tam Soa
Phù vân? Không lẽ phù vân hết
Sao chẳng nơi đâu sánh quê nhà?

Núm rốn mẹ vùi bên rễ mít
Tan vào mạch đất níu hồn con
Mẹ giờ nắm cỏ vuông đất hẹp
Sương khói chờ mong đến mỏi mòn

Người về cho gửi lòng theo với
Bãi mía, bờ dâu,  hến Thượng nờ
Vẫn biết xe tàu không ngăn lối
Nhưng tìm sao được những ngày thơ.

               
Quãng Ngãi, 2002

Trăm năm sau ta sẽ nói câu này

quangthanhbvpl | 07 September, 2008 23:17

  •  
    • Bùi Quang Thanh

      TRĂM NĂM SAU TA SẼ NÓI CÂU NÀY

      Ơi này cô bé
      Quen ba năm chưa hiểu ánh mắt nhìn
      Hãy ghé tai đây ta nói nhỏ
      Em ngại ngần để ta lặng im

      Không nói được câu này ta buồn lắm
      Nhưng nói rồi biết đâu buồn hơn
      Em ngây thơ hay ta khờ dại
      Để nhiều khi buồn tủi, giận hờn.

      Thôi cô bé, hẹn thêm trăm năm nữa
      Không ghé tai ta cũng nói câu này
      Em trong đất ta gửi lời xuyên đất
      Em cuối trời ta gửi đường gió mây
      Em thành Phât - ta gửi nhờ hương khói
      Em là tiên - ta gửi bằng đắm say...

      Ơi cô bé kiếp này chưa nói được
      Trăm năm sau ta sẽ nói câu này.
       

Viết sau bão Chan Chu

quangthanhbvpl | 31 May, 2008 08:11

               


Bùi Quang Thanh


VIẾT SAU BÃO CHAN CHU

Áp tai vào cát mà nghe
Ngoài khơi ngàn dặm tiếng ghe lịm dần
Nghe trong gió cả sóng gầm
Tiếng ai như tiếng người thân thét gào
Trời đêm. Biển sáng trăng sao
Mà lòng lửa đốt gai cào, lạ chưa?

Ngày đi, chén rượu tiễn đưa
Giờ về: một tấm áo mưa bó hồn
Hôm nào cân mực, mớ tôm
Bây chừ: quả trứng bát hương thay lời

Hàn Giang ơi! Hải Vân ơi!
Bao vành khăn trắng lạnh trời miền Trung

Biển khơi từng đã vẫy vùng
Miếng ăn đổi cả tột cùng thương đau
Ngàn năm trước, vạn năm sau
Con người biết gói đùm nhau "rách - lành"
Chiều nay một mảnh chiếu manh
Như là sớ của cao xanh gọi hồn.

Sống như đất. Chết như bùn
Dân nghèo những mảnh lưới cùn đắp nhau
Biển cho trước. Biển lấy sau
Tình người - vợi bớt thương đau - Tình người
Chia nước mắt, sẻ nụ cười
Cưu mang nhau để tình đời thắm hơn

...
Hình như sau phút giận hờn
Đại dương đầy ắp nỗi buồn cố nhân.

                       Đà nẵng 24/5/2006

Từ hoa đến củ

quangthanhbvpl | 30 May, 2008 16:39

Thơ viết cho thiếu nhi

                       Bùi Quang Thanh


TỪ HOA ĐẾN CỦ





Biết cây mẹ cần nhiều nắng
Nuôi cho cả nhà cùng xanh
Hoa Lạc tìm nới yên vắng
Cháy lên, vàng rực hết mình

Những bông mặt trời bé xíu
Lung linh ngời trong ban mai
Gió đưa lời đàn lời sáo
Xôn xao cánh đồng giêng hai

Rì rà lời mời của Đất:
"Về đây dịu mát phù sa
Về đây, Hoa ơi thành củ
Trả ơn cho người nuôi ta..."

Tạm biệt trăng thanh gió mát
Giã từ  nắng đẹp trời xanh
Hoa vàng tìm vào lòng đất
Ăn no để chóng trưởng thành

Chao ơi từ Hoa đến Củ
Xảy ra sau lớp đất nâu
Sau cả sương đêm nắng nỏ
Cứ như có phép nhiệm mầu

Bọc trong răn reo vỏ cứng
Nhân Lạc bở bùi thơm ngon
Nào mời các em thưởng thức
Lạc Sen, lạc Cúc... rang giòn

Giá như không về với đất
Hoa sẽ tàn vảo thời gian
Và cây lạc thành cỏ dại
Dẫu khoe muôn cánh hoa vàng



Chuyện về 10 ngón tay

quangthanhbvpl | 30 May, 2008 06:07

Thơ viết cho thiếu nhi

                 Bùi Quang Thanh

CHUYỆN VỀ
 MƯỜI NGÓN TAY

Mười anh em nhà nọ
Mẹ sinh cùng một lần
Hai anh lớn ngắn chân
Đôi út người nhỏ thó

Cả Mười chàng rất ngộ
Từng cặp giống hệt nhau
Mũ đội lệch sau đầu
Thắt lưng đeo hai cái
(chỉ hai anh Cả ấy
lưng đeo một thắt thôi)

Buồn vui suốt cuộc đời
Mười chàng trai gắn bó
Khi vui: họ gặp gỡ
thành pháo nổ, sấm ran
Khi buồn bực băn khoăn
họ tìm nhau an ủi
Khi kẻ thù lấn tới
họ xếp thành thế đôi
Năm người như Mười người
Mười người như là Một

Khi xòe tay bấm đốt
là anh Cả điểm danh
Ai đó không yên lành
họ ân cần san sẻ

Mười chàng trai nhỏ bé
ngoại giao rất tuyệt vời
một cú bắt tray thôi
là hòa bình, thân ái

Dẫu phân chia phải, trái
chẳng phân biệt hơn, thua
Sống gắn bó, thuận hòa
Bởi Mười chàng là Một.

Chùm ảnh ở Trường Sa của Bùi Quang Thanh

quangthanhbvpl | 21 May, 2008 11:26

Từ  ngày 19tháng 4 đến 30 tháng 4/2008, Bùi Quang Thanh được tham gia chuyến công tác tại quần đảo Trường Sa trên con tàu HQ996, đi thăm 9 đảo, điểm đảo, nhà giàn trên suốt gần 1000 km của chiều dài huyện đảo Trường Sa. Tổng hành trình từ Cam Ranh - Trường Sa - TP Hồ Chí Minh = 2300km ấy BQT đã chụp tới 14GB ảnh (khoảng 5000 ảnh), quay 8h băng hình và thu thập nhiều tư liệu quý về vùng lãnh hải thiêng liêng của Tổ Quốc. Đây là chuyến đi đặc biệt nhất trong đời làm thơ, làm báo của BQT. Trong dịp này, BQT đã tặng bộ đội các đảo và các đơn vị quân đội, nhân dân Trường Sa 40 tập thơ "Mật ong vàng lũng núi" (Thơ Bùi Quang Thanh, NXB Hội Nhà văn 2007), 1 năm báo BVPL (50 tờ/số, trị giá hơn 20 triệu đồng) là liên kết giữa Tập đoàn Vin Com và CQĐDMT - TN của báo Bảo vệ pháp luật.Viết gì, nói gì với bạn đọc thì chưa dám hứa. Trước hết xin gửi đến bạn bè chùm ảnh đầu tiên ở Trường Sa của BQT.

 
Đảo chìm Côlin giữa đại dương bao la

Các nhà báo tác nghiệp trên sóng cả

Dưới gốc cây Phong ba ở Song Tử Tây

Hoàng hôn trên đảo Nam Yết

Nha thơ Bui Quang Thanh tăng thơ cho bộ đội đảo Trường Sa













Sa Pa


NHỮNG CÂU THƠ RẤT KHÓ XUỐNG DÒNG

quangthanhbvpl | 26 March, 2008 20:43

BÙI QUANG THANH

            Chùm: Những câu thơ rất khó xuống dòng

                
Bài I:    SONG HÀNH

   Tôi nhặt lên niềm vui ai đó bỏ quên bên đường phố, thả vào chiếc cốc cuộc đời. Niềm vui lặn xuống đáy, còn nỗi buồn tràn ra ngoài miệng cốc. Niềm vui vay mượn không hề sủi bọt trong chính đời tôi. Nỗi buồn của ai cứ quấn lấy tôi như máu thịt.
   Đêm cô đơn. nỗi buồn bò trên da lưng tê tê những bàn chân nhện. Xoáy vào trong khói thuốc tôi phả qua đình màn. Một nỗi buồn bị cắt thành trăm nỗi buồn. Trăm nỗi buồn bay đi trăm phương để sáng nay màu sương bàng bạc. Để sáng nay, nỗi buồn bám răn reo trên mặt người hành khất; trên đôi nạng gỗ không tiền tân trang màu sơn lở loét; trên mái tóc khô rơm còng queo của em bé bụi đời... 

                  
Những em bé ở làng cùi dưới chân núi Chư A Thai (đi cùng Bút ký Làng cùi của BQT)
                    Em bé làng cùi ở AZun Pa (Chư Sê - Gia Lai)
                                              Ảnh: Bùi Quang Thanh

   Sự chênh lệch nỗi buồn - niềm vui như Trời với Đất. Hôm nào cô bé bán bia ôm gục đầu vào vai tôi khóc suốt, em không nhận những đồng tiền thương xót của tôi. Lại hôm qua, cô bé nhà bên đi mừng sinh nhật bạn, chiếc xe đạp mi ni Tàu không cánh mà bay...
Mắt chưa kịp cười, mắt kia đã khóc. Niềm vui như mụn vá mới mà nỗi buồn như tấm áo cuối đời - luôn song hành cùng tôi.
                                                                                BQT


                      
                   Bài II:  
                                     
NƠI ẤP TRỨNG *

   Trứng Rồng nở ra Rồng! Lũ Rồng con chúng tôi lớn lên trong chiếc tổ cong cong hình chữ S (ét), đầu gối lên núi Bắc, chân gác sóng biển Nam. Chiếc tổ như dáng rồng bay lượn, như dáng hình con sóng, chênh vênh bên nước bên non, chênh vênh nối Trời với Đất.
   Lũ Rồng con không vương miện, không lòe loẹt sắc màu, ở với đất có màu nâu bùn đất; ở với rừng nhuốm màu chàm, màu lục; ở với sông có vẩy bạc, vây trong. Trăm năm rắn thành tinh. Ngàn năm Rồng cứ là Rồng, giữa vần vũ mây mưa vẫn mơ màng phun châu nhả ngọc.

   Những nhà thông thái nói: "Mọi sinh vật bắt đầu từ nước" (?) Mẹ tôi bảo: "Cá Gáy vượt thác Vũ Môn để hóa ra Rồng!" Tôi đến Vũ Môn, nơi giao thoa giữa trời và Đất, thấy ngọn thác từ chín tầng trời rơi vào trang cổ tích, thấy chín tầng mây chất chồng lẫn vạt ngô non. Có phải cha ông tôi xưa dựng nên đỉnh Giăng Màn cho Cá Gáy hóa Rồng qua màn mây trướng gió? Gió chẳng vô tình, mây không buông thả, cứ hát khúc ngàn năm con cháu Tiên - Rồng...

                

                 "Hoàng đế" Bùi Quang Thanh và "Ngũ đại mỹ nhân"

   Em nhìn kia: phía ráng đỏ là cuối dòng sông - nơi lát nữa vừng dương sẽ mọc, nơi gặp gỡ của nguồn non mạch nước và con đò đêm chúng mình sẽ cặp bến Long Ngâm.
   Long Ngâm, vẫn là những thân rồng xoắn quện vào nhau thành hình hài xứ sở. Đã nghe nồng mặn xóm diêm, xóm chài, gió lay bờ đá, muôn âm thanh hòa tấu tự Thiên Cầm vọng mãi Đèo Ngang. Kỳ vĩ vì thắng cảnh, xúc động bởi chiến công, một dải non xanh nước biếc trập trùng mà hội tụ bao thăng trầm lịch sử. Đứng ở nơi đây em có nghe tiếng đàn trời phả vào trong âm âm sóng gió: tiếng Mười vạn tiền quân cùng Lý Thường Kiệt vượt Đèo Ngang vào Ô, Rí bình Chiêm; Mười vạn hậu quân reo làm an lòng vua Trần và quân dân Đại Việt; Mười vạn trung quân theo voi Nguyễn Huệ đập tan lũ xâm lược kiêu hùng. Đứng ở đây nhìn ra ba phía núi, những vỏ trứng rồng lúp xúp ẩn hiện mây mưa, tôi biết rõ vỏ trứng nào sinh đế, sinh vương, vỏ trứng nào sinh thi nhân, dũng tướng.

   Cám ơn Mẹ Âu Cơ khéo khâu chiếc tổ rồng cheo leo trên bán đảo, để khúc ruột miền Trung thành nơi ấp trứng sinh nở anh hào; những đứa con của Long Quân vươn vai đi mở nước không vương miện trên đầu mà rực rỡ trời sao. 
   Và chính em - những gái cưng của Mẹ, đảm đang, chung thủy, dịu hiền - em chẳng biết mình là vành nôi của bao thế hệ, lời ru ngọt ngào cho đất nước hồi sinh.
                                                                                 BQT

*
Trích trong trường ca "Đò dọc - sông đêm"   


                 Bài III:     
                                   
LAY THỨC

 
  Tình cờ tôi tìm được cuốn lý lịch ông tôi chuột đã gặm bốn bề, nanh vuốt thời gian bập vào quá khứ, từng con chữ long lanh như mảnh thủy tinh vỡ soi vào tôi bằng giọt mắt ngấn sương. Chẳng hiểu vì bận bịu hay vô ý thức mà tôi đánh mất dần những gì còn lại của tổ tiên, đánh mất một thời vinh quang và cay đắng. Để lúc chiêm ngưỡng các tượng đài, lướt qua nhà truyền thống, tôi trầm trồ thán phục như trước các chiến tích siêu nhân. Thì ra lũ chuột thính mũi nhọn răng  lại ưa máu thịt cha ông đẫm trong lịch sử...

   Trước mặt tôi là Ngày Mai. Sau lưng tôi là Quá Khứ. Tôi đón nhận Ngày Mai dửng dưng. Tôi vĩnh biệt Hôm Qua thờ ơ như người buồn ngủ. Tôi vô tư nuốt những tháng ngày ngắn ngủi tạo hóa ban cho. Ngửa mặt lên trời tu chén rượu. Liếc mắt xuống đất kiếm nụ hoa... Bầu trời đầy mây bông mà tôi không nghĩ được tôi chẳng thể nào so với những chùm mây lơ đãng ấy: mây hợp, mây tan, mây rữa thành mưa bụi nhưng mây vẫn là mây trong vũ trụ xoay vần. Bông hoa nào cũng xinh tươi và mới mẻ, bên cạnh bông đang chuyển nụ còn chỗ của bông hôm qua đã tan vào gió chẳng để lại hình hài. Tôi không được như mây: tái tạo. Tôi không được như hoa: rực rỡ một thời. Tôi là tôi thôi: lu mờ, hờ hững, nhỏ nhoi... nếu sôi động chút nào (có chăng) cũng vì miếng ăn tấm mặc, cũng vì gió lay mưa thức trong xôn xao chợ búa kiếp người.
  
Tôi là tôi thôi - kẻ mắc nợ trần gian như Chúa Chổm. Nợ bầu trời một ngụm ô xi, nợ cánh đồng một bông lúa chín; nợ mẹ đôi bầu sữa lép với câu đò đưa bên cánh võng ngọt ngào. Tôi nợ giọt mồ hôi trượt qua nếp hằn trên trán bố, nợ cây đa đầu làng chìa râu cho tôi đu võng tuổi thơ. Tôi nợ con sông quê khi vùi tấm thân lấm láp của mình giữa dòng trong vắt, sông gột rửa tôi bằng giọt lòng, gạn những gì tôi bỏ lại, lắng đọng đôi bờ thành dịu ngọt phù sa.
  
Tôi là tôi thôi, một sớm giật mình nhìn những mẩu chữ thủy tinh chuột gặm, cuống cuồng chạy đi nhặt nhạnh chắp nối quá khứ tiền nhân, ông cha tôi chứ đâu phải thiên thần; những mẩu chữ xếp vào nhau thành sợi xích kéo tôi ngược dòng thời gian nhưng không lạc vào vườn cổ tích; nơi tôi đến là nơi rất thực và tôi đã tìm ra báu vật của mình.

   Lịch sử ông cha, lịch sử xuyên qua nắng - mưa - máu - lửa. Những trang huyền thoại kia truyền từ đời này sang đời nọ là để làm thi vị hóa cuộc trường tồn gian khổ trên dải đất chênh vênh. Lịch sử ông cha tôi có hình dạng tảng băng: một phần nổi, ba phần chìm - kẻ vô tâm chẳng thể nào hiểu được.
   Ai dám bảo chín mươi chín đỉnh non Hồng không phải là ẩn số? Ai chưa dám tin Kinh Dương vương từng tọa lạc nơi này? Đàn chim phượng vô tình vỗ cánh hay tôi vô tình để một mắt xích còn lưu lạc nơi đây?

   Đừng dùng mũi xà beng cậy vào đá núi mong khơi lên cổ vật ngàn đời. Dưới đám mây ảo mờ Hương Tích, nàng Diệu Thiện ôm nguyệt cầm cất tiếng hát khơi vơi. Nàng kể về giải đất hẹp phơi mình trong gió cát, những người nông dân một nắng hai sương tần tảo nuôi đời; rằng giọt mồ hôi trên hạt thóc, củ khoai cũng mặn không kém gì muối chưng lên từ biển; rằng: chẳng phải ngẫu nhiên mà hạt lúa cũng tự mình hai đầu biết nhọn; rằng: dòng Lam xanh trong bởi có đầu nguồn Ngàn Sâu, Ngàn Phố xanh trong. Cám ơn nàng đã cho ta lẽ sống: cội nguồn.
   Nàng kể: từ nền Trang Vương nhìn ra bốn phía, phía nào cũng đầy ắp giai điệu thi - phú - dân ca; lời kẻ sĩ mịn như Hoa Tiên, đẹp như Kiều, nghênh ngang như Uy Viễn; lời phường cấy, phường cày mộc mạc giọng đò đưa; thiết tha câu phường vải, ca trù...
   Nàng kể về những chiếc áo tơi xù lông trong nắng hạ, những cặp môi chín trầu thắm đỏ buổi chiều đông cứ xôn xao bốn phía ruộng đồng lời vấn vít yêu đương cùng bao chuyện nhân tình - thế sự...
   Cái giàu đang ở tương lai. Cái nghèo chưa thành quá khứ. Những câu ca muôn thuở dăng mắc cõi lòng.

                                                                 Hà Tĩnh, 1998
                                                                         BQT
* Trích trong trường ca "Đò dọc - sông đêm".


                      Bài IV: 
                                       DÁNG MẸ

  
Con không hình dung nổi Mẹ khi dẫn đàn con đạp núi xuống đồng bằng; con chẳng thể hình dung những ngón chân trần lần đầu tiên víu lên mép biển. Mái nhà Đông Trường Sơn thì dốc thế kia, lổn nhổn đá tai mèo trắng lòa mép sóng.
   Bàn tay không của người mẹ trẻ, những bàn tay không của đám trai tráng đang khao khát trưởng thành, từ cheo leo làng bản xuống chài lưới định canh, con ốc con cua bữa đầu thay tôm cá.
   Ai trong số những người con của Mẹ trở thành thần Khoai, thần Lúa? Ai đóng cối xay? Ai ghép ván lướt thuyền? Mảnh buồm đầu tiên căng gió ra khơi làm bằng vỏ cây hay bằng phên tre nứa?
   Cô gái nào là dâu đầu chị cả biết kết nón quai thao, biết đan áo tơi chằm? Điệu hát đầu tiên ru trẻ dưới đồng bằng có na ná câu then câu lượn?
   Ai cho con tằm ăn lá dâu thay lá sắn để kén thành tơ, tơ thành lụa, mớ ba mớ bảy dập dìu? Vôi bạc trầu cay đắng chát hạt cau ai ghép chúng nên đôi nên lứa?
   Cha độc mộc ngược sông Hồng, sông Mã. Mẹ nhớ thương đâu bến đợi, bến chờ? Bình minh lên sau những gọng vó bè, hoàng hôn rớt cuối lửa nương, khói rẫy.

   Cha và Mẹ giã từ hạnh phúc lứa đôi đi tìm miền Đất Hứa, dời núi chuyển non tạo lập đồng bằng. Rất nhiều năm sau người châu Âu rẽ sóng dõi trăng tìm ra châu Mỹ, châu Đại Dương - cũng vẫn từ đam mê chinh phục.
   Mẹ là người đàn bà đầu tiên trong cổ tích dựng nước non bằng một bọc trứng Rồng. 
   Đất nước vững bền tự bốn ngàn năm, ai tạc nổi dáng hình của Mẹ?

                                                                                  BQT


 

RƯỢU ĐƯỜI ƯƠI

quangthanhbvpl | 21 March, 2008 00:53

   Bùi Quang Thanh

 
RƯỢU ĐƯỜI ƯƠI

Mời nhau chén rượu Đười Ươi
Uống xong nhắm mắt mà cười ngả nghiêng
Rượu này những kẻ chức quyền
Dân anh chị, lắm bạc tiền chào thua
Chẳng có bán. Bán ai mua?
Ngang trời dọc đất vẫn chưa người dùng

Bây giờ nhậu nhẹt tùm lum
Nõn hươu, mật gấu, xương hùm... thiếu chi
Nhẹ dăm chén. Nặng mươi ly
Tỉnh cùng thế sự, say khi cơ cầu

Bây giờ họ uống với nhau
Người gầy ham béo, kẻ giàu ham chơi
Trẻ mong một xị tới ...trời
Già mong bán héo mua tươi tháng ngày
Bây giờ trong ngọn heo may
Cũng thoang thoảng cả hơi cay men nồng
Đại ngàn đã bớt mênh mông
Hổ, voi cũng hết chậy rông nữa rồi

Thôi thì chén rượu Đười Ươi
Uống xong nhắm mắt mà cười...ngả nghiêng

Chùm thơ MÙA XUÂN TÔI VÃN CẢNH CHÙA

quangthanhbvpl | 09 March, 2008 23:46


 
Bùi Quang Thanh

LỄ MỌN



Nắng non mới vàng cành
Đã lặn vào lá mỏng
Những bàn tay của nắng
Vẫy nhau về cõi xa

Trên thân cây đại già
Sân siu bao vết sẹo
Vết tròn chen vết méo
Cơ man là thời gian

Mây sương hay khói hương
dâng lên mờ tam bảo
Ai như nàng bích Châu
mỉm cười sau tà áo
Gió gom từ mắt bão
đưa ngọc ngà về đây
sóng còn vương trắng tóc
rêu phủ xanh dấu hài

Ngót ngàn năm, nàng ơi
ân tình ai bèo bọt
Ngót ngàn năm trùng khơi
sóng không vần nổi cát
Ngót ngàn năm tình đời
vẫn chưa thôi dào dạt...

Bích Châu ơi! Bích Châu
Ngọc Thiện vùi biển Ác
Chữ Ta hãm chữ Tâm
"Kê minh..."** không ngăn nổi
Đức muội mòng ngu quân.
Thèm mâm vàng, mỹ nữ
Quỷ sứ hay Long thần?
Sống không ngăn nổi Chúa
Thác độ trì lương dân

Bích Châu ơi! Bích Châu
Người có là Thánh Mẫu 
T
a yêu Nười ngàn năm
Xin dâng Người lễ mọn:
Thơ xuân đây, thay trầm.
                      
                     Kỳ Anh, Xuân 2006
--------

* Đền Bích Châu (Bà Hải) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh nổi tiếng linh thiêng. Đền thờ ái phi của vua Trần Duệ Tông là Nguyễn Thị Bích Châu bị gian thần hãm chết ở cửa Kỳ La khi cùng nhà vua đi đánh Chiêm Thành.
** "Kê minh thập sách" là tác phẩm của NTBC viết ra để dâng vua kế trị dân, giữ nước.

LÊN CHÙA HƯƠNG QUA ĐẬP NHÀ ĐỜNG

quangthanhbvpl | 09 March, 2008 23:35

Bùi quang Thanh

LÊN CHÙA HƯƠNG
QUA ĐẬP NHÀ ĐỜNG




Núi nghiêng sườn trút mái
Đập gom nước làm hồ
Nơi ngày xưa khe cạn
Sóng đẩy thuyền lô xô

Núi trên mây, trên nước
Rừng dưới biếc, dưới xanh
Đường lên trời sóng dợn
Thuyền ta bơi dập duyền

Người ngủ chùa xuôi núi
Miệng mỉm cười: "A Di..."
Này ơi! nàng Diệu Thiện
Đã ban cho những gì

Mà má hường da phấn
Mà mắt biếc môi son
Miếng trầu nơi cửa Phật
Gió thoảng thơm nồng nàn

Chân rời thuyền lên núi
Mắt níu người xuôi non
Ôi chao là rồng rắn
Khách trẩy về Hương Sơn.

        Hội chùa Hương Tích (Hà Tĩnh)
               Xuân 2003

1 2 3  Sau»
Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS
Powered by vnWeblogs.